Skip to main content
Liên hệ ngay với chúng tôi để được
tư vấn và đặt lịch khám sớm.
Email: bvnhietdoitw@nhtd.vnPhone: 0395.135.099

Hotline: 0395.135.099

Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng

VIÊM MÔ BÀO HOẠI TỬ: TỪ VẾT XƯỚC NHỎ ĐẾN NGUY CƠ TÀN PHẾ, TỬ VONG

Chỉ từ một vết xước nhỏ ở chân hoặc việc tự đắp tỏi, thuốc nam lên vùng sưng đau, nhiễm trùng phần mềm có thể diễn tiến nhanh, gây sốc nhiễm khuẩn, hoại tử mô sâu, thậm chí khiến người bệnh phải cắt cụt một phần chi để kiểm soát nhiễm trùng và bảo toàn tính mạng.

Hoại tử chân vì đắp tỏi và thuốc nam

Ông Đ.S.T (65 tuổi, Lào Cai) có tiền sử viêm dạ dày khoảng 20 năm và mắc gout 7 năm. Khoảng 5 ngày trước khi nhập viện, ông xuất hiện tình trạng khớp gối trái sưng, đau. Nghe người quen mách, ông dùng tỏi đập dập xoa lên vùng đau rồi đắp thuốc nam với mong muốn giảm đau.

Tuy nhiên, tình trạng không những không cải thiện mà vùng đầu gối và cẳng chân ngày càng nóng ran, đau nhiều. Khi tháo bỏ phần thuốc đắp, ông phát hiện tại vùng gối xuất hiện hai nốt rỉ dịch. Theo các bác sĩ, những tổn thương này có thể trở thành đường vào, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào các lớp mô sâu. Sau đó, tổn thương nhanh chóng lan từ vùng khớp gối xuống cẳng chân và bàn chân trái.

Khi được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, ông T. sốt cao 39°C, gai rét, rét run, mệt mỏi nhiều. Vùng cẳng chân và đầu gối trái xuất hiện nhiều bọng nước, mảng hoại tử màu đen, rỉ dịch; chân trái đau và hạn chế vận động nghiêm trọng.

BSCKII Hoàng Mạnh Hà, Trưởng Khoa Ngoại chấn thương, chỉnh hình cho biết: “Việc tự đắp lá cây, tỏi, thuốc nam hoặc các loại thuốc không rõ nguồn gốc lên vùng da đang viêm nhiễm hoặc có tổn thương hở có thể làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn. Khi hàng rào bảo vệ tự nhiên của da bị phá vỡ, vi khuẩn có thể xâm nhập vào các lớp mô sâu và lan rộng theo các tổ chức dưới da, cơ, cân và các mô mềm xung quanh, gây tổn thương nghiêm trọng.”

Cắt cụt nhiều ngón chân chỉ từ vài vết xước nhỏ

Một trường hợp khác là anh L.V.K (47 tuổi, Bắc Ninh). Vài ngày trước khi nhập viện, anh K. dọn dẹp đống gạch, vữa đổ nát từ bờ rào nhà. Sau công việc, anh chỉ nhận thấy một vài vết xước nhỏ ở đầu ngón chân và cho rằng đây là những tổn thương không đáng kể. Khoảng 2 ngày sau, anh bắt đầu sốt cao, rét run, đau đầu và buồn nôn. Anh tự điều trị tại nhà thêm 2 ngày nhưng không cải thiện, sau đó được gia đình đưa đến bệnh viện gần nhà.

Tại đây, bệnh diễn tiến nặng với sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng, viêm phổi, viêm cơ tim và nhiễm khuẩn huyết do phức hợp vi khuẩn Burkholderia. Sau 7 ngày điều trị bằng kháng sinh và hỗ trợ hô hấp bằng máy thở, tình trạng suy hô hấp của anh K. tiếp tục tiến triển nặng, buộc phải chuyển cấp cứu đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Khi nhập Trung tâm Hồi sức tích cực (ICU), anh K. trong tình trạng ý thức giảm, Glasgow 12 điểm, phụ thuộc hoàn toàn vào máy thở. Da và củng mạc mắt vàng đậm, toàn thân phù nề, xuất huyết dưới da rải rác. Xét nghiệm cho thấy tiểu cầu giảm rất sâu (chỉ còn 18 G/L), các chỉ số viêm tăng cao, men gan tăng. Hai bàn chân xuất hiện nhiều bọng nước xuất huyết, nhiều ngón chân đã hoại tử khô, đen.

Ngay lập tức, người bệnh được hồi sức tích cực, truyền 3 khối tiểu cầu, hỗ trợ hô hấp và kiểm soát nhiễm trùng tích cực. Sau 3 ngày điều trị, tình trạng toàn thân có những chuyển biến tích cực, anh K. dần cai được máy thở. Tuy nhiên, tổn thương hoại tử tại hai bàn chân lan rộng và ăn sâu, buộc các bác sĩ phải phẫu thuật cắt cụt đốt ngón 4, 5 chân trái và ngón 3, 4, 5 chân phải, đồng thời cắt lọc rộng toàn bộ phần mô hoại tử tại gan bàn chân hai bên.

Trải qua 3 tuần điều trị kiểm soát nhiễm khuẩn và hồi sức tích cực, các vùng tổn thương tại gan bàn chân đã lên tổ chức hạt tốt, tình trạng hoại tử được kiểm soát.

Không chủ quan với những tổn thương nhỏ trên da

Theo BSCKII Hoàng Mạnh Hà, hai trường hợp trên cho thấy nhiễm trùng phần mềm có thể diễn tiến rất nhanh và mức độ tổn thương không phải lúc nào cũng tương xứng với biểu hiện ban đầu trên da. Đặc biệt, việc tự điều trị, đắp lá cây, thuốc nam hoặc sử dụng các loại thuốc bôi không rõ nguồn gốc lên vùng da tổn thương có thể làm tình trạng nhiễm trùng trở nên phức tạp hơn.

Để phòng tránh nguy cơ biến chứng nguy hiểm, người dân cần đặc biệt lưu ý khi xuất hiện các dấu hiệu như vùng da sưng, nóng, đỏ, đau tăng nhanh; sốt cao kèm rét run; mệt mỏi bất thường; xuất hiện bọng nước, vùng da đổi màu tím, đen hoặc các tổn thương xuất huyết. Đây có thể là những dấu hiệu cảnh báo nhiễm trùng đang tiến triển nặng và cần được thăm khám y tế sớm. Đặc biệt, những người có bệnh lý nền như gout, đái tháo đường, bệnh gan hoặc các bệnh mạn tính khác khi xuất hiện nhiễm trùng cần được thăm khám sớm, không nên tự điều trị tại nhà.

Với các trường hợp nhiễm trùng phần mềm nặng, phát hiện và điều trị càng sớm càng có ý nghĩa trong việc kiểm soát nhiễm trùng, hạn chế tổn thương mô, bảo tồn chức năng chi thể và giảm nguy cơ biến chứng đe dọa tính mạng.

KÍCH HOẠT BÁO ĐỘNG ĐỎ ĐÚNG THỜI ĐIỂM – GIÀNH LẠI SỰ SỐNG CHO NAM THANH NIÊN 18 TUỔI ĐA CHẤN THƯƠNG

Chỉ khoảng 15 phút sau tai nạn giao thông, nam thanh niên 18 tuổi được đưa tới Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương trong tình trạng sốc mất máu do đa chấn thương. Trước tình trạng nguy kịch, BSCKII Trần Thượng Việt – Trưởng khoa Ngoại Tổng hợp, Tiết niệu và Nam học đã quyết định kích hoạt quy trình Báo động đỏ, huy động khẩn cấp các ê-kíp phối hợp cấp cứu. Nhờ đó, người bệnh được đưa lên bàn mổ chỉ khoảng 10 phút sau khi nhập viện, tận dụng “thời gian vàng” trước khi tình trạng sốc mất máu trở nên không thể hồi phục.

Cuộc chạy đua bắt đầu ngay từ cửa Khoa Cấp cứu

Người bệnh P.T.D. (18 tuổi, Hà Nội) được xe cấp cứu đưa đến Khoa Cấp cứu chỉ khoảng 15 phút sau vụ va chạm giữa xe máy và ô tô.

Ngay khi tiếp nhận, ê-kíp trực Khoa Cấp cứu nhanh chóng triển khai tiếp cận bệnh nhân đa chấn thương theo nguyên tắc ABCDE. Mặc dù bệnh nhân vẫn còn tỉnh táo và có thể giao tiếp, nhưng các bác sĩ nhận thấy đây là tình trạng không hề “ổn định” như biểu hiện bên ngoài. Các chỉ số sinh tồn cho thấy người bệnh đã rơi vào sốc mất máu với mạch nhanh 120 lần/phút, huyết áp chỉ còn 75/55 mmHg. Khám lâm sàng ghi nhận vùng ngực và bụng bầm tím diện rộng, bụng trướng căng, phản ứng thành bụng, cảm ứng phúc mạc rõ, kèm theo vết thương hở vùng hông phải lộ xương cánh chậu.

Song song với việc hồi sức ban đầu, điều dưỡng Khoa Cấp cứu nhanh chóng thiết lập hai đường truyền tĩnh mạch ngoại vi cỡ lớn, lấy máu làm xét nghiệm, gửi định nhóm máu và chuẩn bị truyền máu tối cấp. Đồng thời, siêu âm FAST tại giường được thực hiện ngay và phát hiện nhiều dịch tự do trong ổ bụng, nghi ngờ chảy máu trong.

Sau khi trực tiếp đánh giá người bệnh, kết hợp dấu hiệu sốc mất máu, khám lâm sàng và kết quả siêu âm FAST tại giường, BSCKII Trần Thượng Việt nhận định người bệnh nhiều khả năng bị đa chấn thương, trong đó có chấn thương bụng kín và chấn thương ngực kín gây chảy máu nội tạng nghiêm trọng, cần phẫu thuật cấp cứu ngay.

Trước tình trạng nguy kịch, BSCKII Trần Thượng Việt quyết định kích hoạt ngay quy trình Báo động đỏ nội viện và chỉ định chuyển thẳng người bệnh lên phòng mổ mà không chờ chụp CT ngực – bụng, không chờ có kết quả xét nghiệm máu, không chờ thân nhân hoàn tất các thủ tục hành chính và không chờ đóng viện phí.

BSCKII Trần Thượng Việt nhấn mạnh: “Trong những trường hợp này, quyết định quan trọng nhất không phải là có thêm một phim CT hay thêm một kết quả xét nghiệm, mà là xác định đúng người bệnh đang chảy máu đe dọa tính mạng và đưa họ lên phòng mổ nhanh nhất có thể. Nếu chờ đủ mọi quy trình thông thường thì có thể người bệnh sẽ không còn cơ hội để phẫu thuật.”

Ngay sau khi Báo động đỏ được kích hoạt, tổng đài bệnh viện đồng loạt huy động các lực lượng gồm Khoa Gây mê hồi sức, Khoa ngoại Tổng hợp- Tiết niệu và Nam học, Trung tâm Hồi sức tích cực, Trung tâm Phẫu thuật Gan mật và Tiêu hóa, Khoa Ngoại Chấn thương chỉnh hình, Khoa Huyết học – Truyền máu cùng nhiều đơn vị liên quan sẵn sàng phối hợp.

Trong khi Khoa Cấp cứu tiếp tục hồi sức, Khoa Gây mê hồi sức khẩn trương kích hoạt quy trình chuẩn bị phòng mổ, thuốc và phương tiện kiểm soát đường thở, các đường truyền cần thiết, đồng thời sẵn sàng phương án hồi sức truyền máu khối lượng lớn. Chỉ khoảng 10 phút sau khi nhập viện, người bệnh đã được đưa lên bàn mổ.

Ca phẫu thuật sinh tử với sự phối hợp đa chuyên khoa

Khi mở ổ bụng, các bác sĩ ghi nhận khoảng 1,5 lít máu tươi trong ổ bụng. Người bệnh bị vỡ lách chảy máu ồ ạt; rách cơ hoành trái dài 10cm, gây thoát vị toàn bộ dạ dày, lách và ruột non lên khoang màng phổi trái; vết rách gan sâu trên 5 cm; đụng dập và rách mạc treo ruột non; cùng vết thương hở vùng hông phải lộ xương cánh chậu.

Ê-kíp Khoa Ngoại Tổng hợp – Tiết niệu và Nam học tiến hành cắt lách, khâu phục hồi cơ hoành, cắt đoạn ruột non tổn thương và xử trí các tổn thương trong ổ bụng. Trung tâm Phẫu thuật Gan mật và Tiêu hóa cùng Khoa Ngoại Chấn thương chỉnh hình phối hợp xử trí các tổn thương gan và khung chậu. Trong suốt cuộc mổ, ê-kíp Gây mê hồi sức liên tục truyền máu, chế phẩm máu và hồi sức tuần hoàn nhằm duy trì huyết động cho người bệnh.

BSCKII Nguyễn Chiến Quyết, Khoa Ngoại Tổng hợp – Tiết niệu và Nam học cho biết: “Đây là cuộc phẫu thuật mà nhiều ê-kíp phải làm việc cùng lúc. Trong khi một nhóm phẫu thuật cầm máu, nhóm khác hồi sức tuần hoàn, truyền máu liên tục để giữ cho người bệnh vượt qua từng phút nguy kịch.”

Sau phẫu thuật, bệnh nhân tiếp tục được chuyển đến Trung tâm Hồi sức tích cực trong tình trạng hậu phẫu rất nặng. Tại đây, các bác sĩ tiếp tục kiểm soát tình trạng sốc mất máu, điều trị suy hô hấp, đụng dập phổi hai bên, tràn máu màng phổi, hội chứng tiêu cơ vân và phát hiện thêm nhiều tổn thương cột sống trên phim CT toàn thân sau mổ.

Sau 4 ngày hồi sức tích cực, người bệnh cai máy thở thành công, rút nội khí quản, các chỉ số huyết động và xét nghiệm cải thiện rõ rệt, tỉnh táo và đang tiếp tục hồi phục.

BSCKII Trần Thượng Việt chia sẻ thêm: “Trong cấp cứu ngoại khoa, đặc biệt với đa chấn thương, quyết định đúng trong vài phút đầu có thể quyết định sự sống còn của người bệnh. Báo động đỏ được xây dựng để loại bỏ mọi rào cản về thời gian, thủ tục và huy động ngay toàn bộ nguồn lực của bệnh viện vì mục tiêu cao nhất là cứu sống người bệnh”.

Báo động đỏ – thành quả của một hệ thống cấp cứu được chuẩn bị bài bản

Đằng sau quyết định cứu sống người bệnh trong những phút đầu tiên là cả một hệ thống quy trình đã được xây dựng, diễn tập và hoàn thiện nhiều năm. Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương xác định Báo động đỏ nội viện là một trong những quy trình trọng điểm nhằm nâng cao chất lượng cấp cứu người bệnh nguy kịch. Thay vì để từng chuyên khoa hoạt động riêng lẻ, quy trình được xây dựng theo hướng huy động đồng thời mọi nguồn lực cần thiết ngay khi có quyết định kích hoạt, bảo đảm nguyên tắc “đúng người – đúng thời điểm – đúng nguồn lực”.

Từ hệ thống tổng đài, danh sách trực chuyên gia, quy trình huy động phòng mổ, ngân hàng máu, gây mê hồi sức, hồi sức tích cực đến các khoa ngoại và cận lâm sàng đều được chuẩn hóa, giúp loại bỏ tối đa những khoảng thời gian chờ đợi vốn có trong cấp cứu. Bệnh viện thường xuyên rà soát, cập nhật quy trình, tổ chức tập huấn và diễn tập liên chuyên khoa để mỗi thành viên nắm rõ vai trò, sẵn sàng phối hợp khi Báo động đỏ được kích hoạt.

Ca bệnh nam thanh niên 18 tuổi không chỉ là thành công của một ca phẫu thuật hay của riêng một chuyên khoa, mà là minh chứng cho hiệu quả của một hệ thống cấp cứu được tổ chức bài bản. Trong đó Khoa Cấp cứu phát hiện và hồi sức ban đầu; BSCKII Trần Thượng Việt quyết đoán nhận định và kích hoạt Báo động đỏ; Khoa Gây mê hồi sức bảo đảm triển khai phẫu thuật và hồi sức kịp thời; các chuyên khoa phối hợp đồng bộ dưới một quy trình thống nhất do Bệnh viện xây dựng và triển khai.

Đối với người bệnh đa chấn thương, cơ hội sống không chỉ phụ thuộc vào một ca phẫu thuật mà là kết quả của cả một quy trình cấp cứu được vận hành đồng bộ. Trong đó, kích hoạt Báo động đỏ đúng thời điểm là một yếu tố quan trọng giúp tận dụng tối đa “thời gian vàng”, nâng cao cơ hội sống cho người bệnh đa chấn thương nặng.

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH 3D, PHẪU THUẬT THÀNH CÔNG KHỐI U HÀM MẶT XÂM LẤN PHỨC TẠP Ở CỤ ÔNG 76 TUỔI

Một cụ ông 76 tuổi ở Hà Nội mắc ung thư biểu mô tế bào vảy xâm lấn rộng vùng hàm mặt, ăn mòn nhiều cấu trúc xương và tổ chức quan trọng, vừa được các bác sĩ Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương phẫu thuật cắt bỏ khối u và tái tạo vùng khuyết hổng phức tạp. Nhờ ứng dụng mô hình 3D để lập kế hoạch trước mổ, hai ê-kíp phẫu thuật có thể phối hợp đồng thời, giúp hoàn thành ca phẫu thuật trong 8 giờ thay vì thời gian dự kiến khoảng 12 giờ, qua đó chủ động hơn trong kiểm soát các nguy cơ có thể xảy ra.

Khoảng 3 tháng trước khi nhập viện, ông N.D.S. (76 tuổi, trú tại Hà Nội) phát hiện một khối u ở vùng má phải. Khối u không gây đau nhưng phát triển nhanh, ngày càng cứng chắc, chèn ép các tổ chức xung quanh, làm hẹp hốc mắt và khiến thị lực của người bệnh suy giảm nghiêm trọng.

Kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI) tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cho thấy khối u đã xâm lấn, ăn mòn nhiều cấu trúc vùng hàm mặt, bao gồm toàn bộ xương gò má, xương hàm trên, vùng xoang hàm, hốc mũi, sàn và thành ngoài hốc mắt phải và các tổ chức xung quanh. Kết quả sinh thiết xác định người bệnh mắc ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC) xâm lấn.

Trước tình trạng tổn thương lan rộng, người bệnh được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ khối u triệt để kết hợp tái tạo vùng hàm mặt.

Theo TS Dương Mạnh Chiến, Phụ trách Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, người trực tiếp thực hiện ca phẫu thuật, đây là trường hợp rất phức tạp do khối u đã xâm lấn rộng vào xương hàm trên, xương gò má, các cấu trúc xương vùng mũi và thành dưới hốc mắt phải.

Để điều trị triệt căn, hạn chế nguy cơ tái phát và kiểm soát khả năng di căn, các bác sĩ phải tiến hành phẫu thuật cắt rộng tổn thương, loại bỏ khối u cùng các tổ chức bị xâm lấn và một phần tổ chức lành xung quanh theo nguyên tắc ung thư học; cắt bỏ phần xương hàm trên bên phải kèm nhãn cầu phải, vét hạch cổ, đồng thời tái tạo lại các cấu trúc vùng mặt đã bị cắt bỏ. Đây là một cuộc phẫu thuật đặc biệt khó, bởi bên cạnh yêu cầu kiểm soát triệt để khối u, các bác sĩ còn phải giải quyết một khuyết hổng lớn và phức tạp ở vùng mặt, đồng thời phục hồi tối đa cấu trúc giải phẫu cho người bệnh.

Để giải bài toán này, lần đầu tiên tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, các bác sĩ đã ứng dụng công nghệ mô hình 3D trong đánh giá tổn thương và lập kế hoạch phẫu thuật.

Từ dữ liệu hình ảnh chụp cắt lớp vi tính, ê-kíp phẫu thuật xây dựng mô hình 3D giúp hình dung trực quan, chính xác phạm vi tổn thương, xác định ranh giới cần cắt bỏ và mô phỏng trước các bước phẫu thuật. Dựa trên mô hình này, các bác sĩ có thể tính toán phương án cắt xương, dự kiến hình dạng phần xương cần tái tạo, đồng thời xác định trước vị trí lấy vạt và phương án tạo hình phù hợp với mức độ khuyết hổng.

Nhờ có “kịch bản” phẫu thuật được chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước, ê-kíp có thể chủ động hơn trong quá trình mổ, hạn chế tối đa những tình huống phát sinh và giảm nguy cơ cho người bệnh.

 Với trường hợp đặc biệt này, các bác sĩ sử dụng vạt da, cơ và xương bả vai bên trái của chính người bệnh để tái tạo vùng khuyết hổng. Hai ê-kíp phẫu thuật được triển khai đồng thời.

 Ê-kíp 1 do các bác sĩ của chuyên gia Hoàng Văn Nhạ khoa TMH bệnh viện K3 chuyên khoa về ung thư phẫu thuật vùng đầu mặt cổ thực hiện loại bỏ triệt để toàn bộ khối u xâm lấn, vét hạch cổ, kiểm soát diện cắt và hạch vùng liên quan.

Song song đó, ê-kíp phẫu thuật tạo hình do TS Dương Mạnh Chiến thực hiện bóc vạt da, cơ và xương vùng bả vai trái của người bệnh để tái tạo. Các bác sĩ tạo hình lại cấu trúc xương hàm trên, vùng hốc mắt và phần mềm vùng mặt, đồng thời thực hiện nối mạch vi phẫu dưới kính hiển vi để đảm bảo vạt ghép được cấp máu tốt.

Sự phối hợp đồng thời giữa hai ê-kíp, cùng với kế hoạch phẫu thuật được chuẩn bị chi tiết trên nền tảng mô hình 3D, đã giúp rút ngắn đáng kể thời gian phẫu thuật. Nếu dự kiến ca mổ có thể kéo dài khoảng 12 giờ, thực tế các bác sĩ đã hoàn thành toàn bộ cuộc phẫu thuật trong 8 giờ.

Bên cạnh yếu tố chuyên môn và công nghệ, thể trạng của người bệnh cũng là một trong những yếu tố thuận lợi góp phần vào thành công của ca mổ. Dù đã 76 tuổi, ông S. không mắc các bệnh lý nền mạn tính đáng kể như đái tháo đường, tăng huyết áp hay bệnh lý tim mạch. Thể trạng tốt giúp người bệnh có khả năng đáp ứng với cuộc phẫu thuật kéo dài và giảm nguy cơ biến chứng toàn thân trong và sau mổ.

Sau 8 giờ phẫu thuật, ca mổ kết thúc thuận lợi. Sau 7 ngày điều trị tích cực, sức khỏe người bệnh phục hồi rõ rệt.

“Hiện tại, toàn trạng bệnh nhân ổn định, tỉnh táo, tiếp xúc tốt, có thể ngồi dậy và tự sinh hoạt. Vạt da ghép vi phẫu vùng mặt hồng ấm, được cấp máu tốt, trương lực mềm, cho thấy phần mô ghép sống tốt và đang thích ứng hiệu quả”, TS Dương Mạnh Chiến cho biết.

Thành công của ca phẫu thuật đánh dấu bước tiến trong việc ứng dụng công nghệ mô phỏng 3D vào lập kế hoạch phẫu thuật các tổn thương phức tạp vùng hàm mặt tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Sự kết hợp giữa công nghệ hiện đại, phẫu thuật ung thư và kỹ thuật tạo hình vi phẫu giúp các bác sĩ chủ động hơn trong xử trí những tổn thương rộng, phức tạp, rút ngắn thời gian phẫu thuật và giảm thiểu nguy cơ cho người bệnh.

BỘ Y TẾ QUYẾT ĐỊNH BAN HÀNH TÀI LIỆU CHUYÊN MÔN “HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ BỆNH DO VI RÚT HANTA”

Căn cứ Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023;

Căn cứ Nghị định số 42/2025/NĐ-CP ngày 27 tháng 2 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu của Bộ Y tế;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh.

Click vào link sau đây để biết thêm thông tin chi tiết : 1905 BYT. QD ban hanh HDCDDT benh do VR Hanta.signed

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH 3D, PHẪU THUẬT THÀNH CÔNG KHỐI U HÀM MẶT XÂM LẤN PHỨC TẠP Ở CỤ ÔNG 76 TUỔI

Một cụ ông 76 tuổi ở Hà Nội mắc ung thư biểu mô tế bào vảy xâm lấn rộng vùng hàm mặt, ăn mòn nhiều cấu trúc xương và tổ chức quan trọng, vừa được các bác sĩ Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương phẫu thuật cắt bỏ khối u và tái tạo vùng khuyết hổng phức tạp. Nhờ ứng dụng mô hình 3D để lập kế hoạch trước mổ, hai ê-kíp phẫu thuật có thể phối hợp đồng thời, giúp hoàn thành ca phẫu thuật trong 8 giờ thay vì thời gian dự kiến khoảng 12 giờ, qua đó chủ động hơn trong kiểm soát các nguy cơ có thể xảy ra.

Khoảng 3 tháng trước khi nhập viện, ông N.D.S. (76 tuổi, trú tại Hà Nội) phát hiện một khối u ở vùng má phải. Khối u không gây đau nhưng phát triển nhanh, ngày càng cứng chắc, chèn ép các tổ chức xung quanh, làm hẹp hốc mắt và khiến thị lực của người bệnh suy giảm nghiêm trọng.

Kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI) tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cho thấy khối u đã xâm lấn, ăn mòn nhiều cấu trúc vùng hàm mặt, bao gồm toàn bộ xương gò má, xương hàm trên, vùng xoang hàm, hốc mũi, sàn và thành ngoài hốc mắt phải và các tổ chức xung quanh. Kết quả sinh thiết xác định người bệnh mắc ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC) xâm lấn.

Trước tình trạng tổn thương lan rộng, người bệnh được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ khối u triệt để kết hợp tái tạo vùng hàm mặt.

Theo TS Dương Mạnh Chiến, Phụ trách Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, người trực tiếp thực hiện ca phẫu thuật, đây là trường hợp rất phức tạp do khối u đã xâm lấn rộng vào xương hàm trên, xương gò má, các cấu trúc xương vùng mũi và thành dưới hốc mắt phải.

Để điều trị triệt căn, hạn chế nguy cơ tái phát và kiểm soát khả năng di căn, các bác sĩ phải tiến hành phẫu thuật cắt rộng tổn thương, loại bỏ khối u cùng các tổ chức bị xâm lấn và một phần tổ chức lành xung quanh theo nguyên tắc ung thư học; cắt bỏ phần xương hàm trên bên phải kèm nhãn cầu phải, vét hạch cổ, đồng thời tái tạo lại các cấu trúc vùng mặt đã bị cắt bỏ. Đây là một cuộc phẫu thuật đặc biệt khó, bởi bên cạnh yêu cầu kiểm soát triệt để khối u, các bác sĩ còn phải giải quyết một khuyết hổng lớn và phức tạp ở vùng mặt, đồng thời phục hồi tối đa cấu trúc giải phẫu cho người bệnh.

Để giải bài toán này, lần đầu tiên tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, các bác sĩ đã ứng dụng công nghệ mô hình 3D trong đánh giá tổn thương và lập kế hoạch phẫu thuật.

Từ dữ liệu hình ảnh chụp cắt lớp vi tính, ê-kíp phẫu thuật xây dựng mô hình 3D giúp hình dung trực quan, chính xác phạm vi tổn thương, xác định ranh giới cần cắt bỏ và mô phỏng trước các bước phẫu thuật. Dựa trên mô hình này, các bác sĩ có thể tính toán phương án cắt xương, dự kiến hình dạng phần xương cần tái tạo, đồng thời xác định trước vị trí lấy vạt và phương án tạo hình phù hợp với mức độ khuyết hổng.

Nhờ có “kịch bản” phẫu thuật được chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước, ê-kíp có thể chủ động hơn trong quá trình mổ, hạn chế tối đa những tình huống phát sinh và giảm nguy cơ cho người bệnh.

Với trường hợp đặc biệt này, các bác sĩ sử dụng vạt da, cơ và xương bả vai bên trái của chính người bệnh để tái tạo vùng khuyết hổng. Hai ê-kíp phẫu thuật được triển khai đồng thời.

 Ê-kíp 1 do các bác sĩ của chuyên gia Hoàng Văn Nhạ khoa TMH bệnh viện K3 chuyên khoa về ung thư phẫu thuật vùng đầu mặt cổ thực hiện loại bỏ triệt để toàn bộ khối u xâm lấn, vét hạch cổ, kiểm soát diện cắt và hạch vùng liên quan.

Song song đó, ê-kíp phẫu thuật tạo hình do TS Dương Mạnh Chiến thực hiện bóc vạt da, cơ và xương vùng bả vai trái của người bệnh để tái tạo. Các bác sĩ tạo hình lại cấu trúc xương hàm trên, vùng hốc mắt và phần mềm vùng mặt, đồng thời thực hiện nối mạch vi phẫu dưới kính hiển vi để đảm bảo vạt ghép được cấp máu tốt.

Sự phối hợp đồng thời giữa hai ê-kíp, cùng với kế hoạch phẫu thuật được chuẩn bị chi tiết trên nền tảng mô hình 3D, đã giúp rút ngắn đáng kể thời gian phẫu thuật. Nếu dự kiến ca mổ có thể kéo dài khoảng 12 giờ, thực tế các bác sĩ đã hoàn thành toàn bộ cuộc phẫu thuật trong 8 giờ.

Bên cạnh yếu tố chuyên môn và công nghệ, thể trạng của người bệnh cũng là một trong những yếu tố thuận lợi góp phần vào thành công của ca mổ. Dù đã 76 tuổi, ông S. không mắc các bệnh lý nền mạn tính đáng kể như đái tháo đường, tăng huyết áp hay bệnh lý tim mạch. Thể trạng tốt giúp người bệnh có khả năng đáp ứng với cuộc phẫu thuật kéo dài và giảm nguy cơ biến chứng toàn thân trong và sau mổ.

Sau 8 giờ phẫu thuật, ca mổ kết thúc thuận lợi. Sau 7 ngày điều trị tích cực, sức khỏe người bệnh phục hồi rõ rệt.

“Hiện tại, toàn trạng bệnh nhân ổn định, tỉnh táo, tiếp xúc tốt, có thể ngồi dậy và tự sinh hoạt. Vạt da ghép vi phẫu vùng mặt hồng ấm, được cấp máu tốt, trương lực mềm, cho thấy phần mô ghép sống tốt và đang thích ứng hiệu quả”, TS Dương Mạnh Chiến cho biết.

Thành công của ca phẫu thuật đánh dấu bước tiến trong việc ứng dụng công nghệ mô phỏng 3D vào lập kế hoạch phẫu thuật các tổn thương phức tạp vùng hàm mặt tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Sự kết hợp giữa công nghệ hiện đại, phẫu thuật ung thư và kỹ thuật tạo hình vi phẫu giúp các bác sĩ chủ động hơn trong xử trí những tổn thương rộng, phức tạp, rút ngắn thời gian phẫu thuật và giảm thiểu nguy cơ cho người bệnh.

ĐẶT LỊCH KHÁM TRỰC TUYẾN DỄ DÀNG CÙNG MINI APP BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG

📢 Nhằm giúp người bệnh chủ động hơn trong việc khám chữa bệnh và giảm thời gian chờ đợi, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương đã triển khai Mini App trên Zalo, giúp quý vị dễ dàng đặt lịch khám với bác sĩ chỉ bằng vài thao tác đơn giản.

🔹 Bước 1: Quét mã QR bằng Zalo để truy cập Mini App.

🔹 Bước 2: Liên kết số điện thoại và xác thực căn cước công dân theo hướng dẫn.

🔹 Bước 3: Thực hiện 4 bước đơn giản để đặt lịch khám với bác sĩ theo nhu cầu.

🩺 Trong quá trình khám, quý vị có thể sử dụng Sổ sức khỏe điện tử trên Mini App để theo dõi các bước khám đã hoàn thành, những nội dung còn thực hiện và cập nhật kết quả xét nghiệm, chẩn đoán ngay khi có trên hệ thống. Nhờ đó, quý vị dễ dàng theo dõi tiến trình khám và quay lại phòng khám để được bác sĩ tư vấn khi đã có đầy đủ kết quả.

📋 Sau khi kết thúc buổi khám, Sổ sức khỏe điện tử vẫn được lưu trữ trên Mini App, giúp quý vị xem lại kết quả khám, đơn thuốc và các thông tin cần thiết mọi lúc, mọi nơi.

🌟 Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương hy vọng Mini App sẽ mang đến cho quý vị trải nghiệm khám bệnh nhanh chóng, thuận tiện, minh bạch và chủ động hơn, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và chăm sóc sức khỏe.

📲 Hãy quét mã QR và trải nghiệm Mini App ngay hôm nay!

SAU 5 NĂM KIÊN TRÌ “CHIẾN ĐẤU”, NỮ BỆNH NHÂN UNG THƯ GAN TÌM LẠI CƠ HỘI SỐNG NHỜ BƯỚC NGOẶT PHẪU THUẬT

Phát hiện ung thư gan trên nền viêm gan B mạn tính từ năm 2020, suốt 5 năm qua, người phụ nữ 38 tuổi đã trải qua gần như tất cả các phương pháp điều trị hiện có như đốt sóng cao tần, nút mạch hóa chất và điều trị thuốc toàn thân. Khi khối u vẫn không ngừng tiến triển và hy vọng dần thu hẹp, chiến lược điều trị đa mô thức, cá thể hóa tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương đã tạo nên bước ngoặt: khối u được cắt bỏ thành công, mở ra cơ hội sống mới cho người mẹ ba con.

Tại Trung tâm Phẫu thuật Gan mật và Tiêu hóa, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, các bác sĩ vừa điều trị thành công cho nữ bệnh nhân 38 tuổi (Hưng Yên), là công nhân và đang nuôi ba con nhỏ. Chị mắc ung thư biểu mô tế bào gan trên nền viêm gan B mạn tính.

Theo ThS.BSNT Dương Thị Hường, người bệnh đã được điều trị viêm gan B bằng thuốc kháng virus đều đặn trong nhiều năm. Năm 2020, trong một lần khám định kỳ, chị phát hiện mắc ung thư gan. Từ đó đến nay, chị liên tục được điều trị bằng nhiều phương pháp như đốt sóng cao tần (RFA), nút mạch hóa chất (TACE) nhiều lần nhằm kiểm soát khối u.

Tuy nhiên, bệnh không đáp ứng như mong đợi. Đến tháng 8/2025, các biện pháp điều trị tiếp tục cho hiệu quả hạn chế. Tháng 12/2025, khối u tăng sinh mạch trở lại. Các bác sĩ chuyển sang điều trị thuốc toàn thân nhưng ung thư vẫn tiếp tục tiến triển, xuất hiện thêm tổn thương mới, trong khi chỉ số AFP tăng lên tới 626 ng/mL, phản ánh hoạt động mạnh của khối u.

Trước tình trạng đó, bệnh nhân được chuyển đến Trung tâm Phẫu thuật Gan mật và Tiêu hóa, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Sau khi đánh giá toàn diện bằng các xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và phân giai đoạn bệnh, các bác sĩ xác định đây là trường hợp ung thư gan phải tiến triển.

Theo ThS.BSNT Dương Thị Hường, mặc dù đã trải qua nhiều lần điều trị nhưng người bệnh vẫn chưa hết cơ hội. Sau khi hội chẩn đa chuyên khoa và đánh giá toàn diện mức độ xâm lấn của khối u, chức năng gan cũng như thể trạng, các bác sĩ quyết định thực hiện phẫu thuật cắt gan phải diện rộng. Đây trở thành bước ngoặt sau gần 5 năm người bệnh kiên trì chống chọi với ung thư.

Ca mổ diễn ra thuận lợi. Sau phẫu thuật, chức năng gan hồi phục tốt, diễn biến hậu phẫu ổn định. Kết quả chụp cắt lớp vi tính (CT) kiểm tra không ghi nhận tổn thương còn sót lại, các chỉ điểm khối u giảm rõ rệt. Chỉ sau 10 ngày điều trị, người mẹ ba con được xuất viện trong niềm vui vỡ òa của gia đình và tập thể y bác sĩ.

Thành công của ca bệnh là minh chứng cho hiệu quả của chiến lược điều trị đa mô thức và cá thể hóa trong điều trị ung thư gan.

ThS.BSNT Dương Thị Hường chia sẻ: “Không phải mọi trường hợp ung thư gan tiến triển đều đồng nghĩa với mất cơ hội điều trị. Điều quan trọng là người bệnh cần được đánh giá lại liên tục ở từng giai đoạn để  điều chỉnh chiến lược phù hợp. Khi được tiếp cận đúng thời điểm, đúng phương pháp, ngay cả những trường hợp tưởng như bế tắc vẫn có thể mở ra cơ hội sống”.

Dưới góc độ chuyên môn, BSCKII Nguyễn Trường Giang – Phó Giám đốc Trung tâm Phẫu thuật Gan mật và Tiêu hóa cho biết: Trường hợp này cho thấy vai trò quan trọng của điều trị đa mô thức và chiến lược cá thể hóa trong ung thư gan. Việc phối hợp linh hoạt giữa đốt sóng cao tần, nút mạch hóa chất, điều trị thuốc toàn thân và phẫu thuật giúp tối ưu hiệu quả kiểm soát bệnh, đồng thời mở thêm cơ hội điều trị cho những trường hợp trước đây vốn được đánh giá rất khó can thiệp.

BS Giang khuyến cáo, người mắc viêm gan B mạn tính cần khám định kỳ và tầm soát ung thư gan thường xuyên theo hướng dẫn của bác sĩ. Khi đã được chẩn đoán ung thư gan, người bệnh cần tuân thủ điều trị, tái khám đúng hẹn và không tự ý bỏ dở quá trình theo dõi. Mỗi bệnh nhân ung thư gan là một hành trình riêng biệt. Việc đánh giá chính xác giai đoạn bệnh, lựa chọn đúng phương pháp và sự phối hợp chặt chẽ của hội đồng đa chuyên khoa chính là ‘chìa khóa vàng’ giúp kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

GẶP MẶT CÁN BỘ, VIÊN CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀ CON LIỆT SĨ, CON THƯƠNG BINH NHÂN NGÀY 27/7

Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026), sáng ngày 27/7, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương tổ chức buổi gặp mặt cán bộ, viên chức, người lao động đang công tác tại Bệnh viện là con liệt sĩ, con thương binh và con người có công với cách mạng.

Buổi gặp mặt do TS.BS Phạm Ngọc Thạch, Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, chủ trì, diễn ra trong không khí thân tình, ấm áp, là dịp để Bệnh viện bày tỏ sự trân trọng, lòng biết ơn đối với những gia đình đã có những đóng góp, hy sinh cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc.

Đây cũng là hoạt động ý nghĩa nhằm phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, thể hiện sự quan tâm của Bệnh viện đối với cán bộ, viên chức, người lao động có thân nhân là người có công với cách mạng.

BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG ĐẨY MẠNH CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG PHẪU THUẬT THẦN KINH

Trong xu hướng phát triển y học hiện đại, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ cao đang trở thành nền tảng quan trọng giúp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tối ưu hóa quy trình chuyên môn và mang lại hiệu quả điều trị ngày càng tốt hơn cho người bệnh. Với định hướng đó, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương không ngừng đầu tư các trang thiết bị hiện đại, từng bước làm chủ những kỹ thuật tiên tiến, góp phần nâng cao năng lực điều trị chuyên sâu.

Mới đây, Khoa Phẫu thuật Thần kinh – Sọ não, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương đã tiếp nhận và được các chuyên gia trực tiếp hướng dẫn vận hành Hệ thống định vị phẫu thuật thần kinh STEALTHSTATION™ S8 – nền tảng dẫn đường phẫu thuật tiên tiến của Medtronic đang được sử dụng tại nhiều trung tâm phẫu thuật thần kinh lớn trên thế giới.

Đây không chỉ là hoạt động chuyển giao một thiết bị y tế hiện đại mà còn là bước chuẩn bị quan trọng để đội ngũ bác sĩ làm chủ công nghệ và trang thiết bị mới, góp phần nâng cao chất lượng điều trị các bệnh lý thần kinh, đồng thời từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng bệnh viện thông minh gắn với chuyển đổi số trong y tế.

Nâng cao độ chính xác trong phẫu thuật thần kinh

STEALTHSTATION™ S8 là hệ thống định vị dẫn đường trong phẫu thuật, sử dụng dữ liệu hình ảnh CT và MRI để tái tạo cấu trúc giải phẫu ba chiều, đồng bộ với không gian phẫu thuật thực tế và hiển thị vị trí của dụng cụ phẫu thuật theo thời gian thực.

Nhờ công nghệ này, phẫu thuật viên có thể xây dựng kế hoạch trước mổ một cách chi tiết, xác định chính xác vị trí tổn thương, lựa chọn đường tiếp cận tối ưu và theo dõi liên tục hướng di chuyển của dụng cụ trong suốt quá trình phẫu thuật. Điều này giúp nâng cao độ chính xác của ca mổ, hạn chế tối đa tác động lên các cấu trúc thần kinh và mạch máu quan trọng, đồng thời góp phần giảm nguy cơ biến chứng và nâng cao hiệu quả điều trị.

Đối với phẫu thuật thần kinh sọ não, hệ thống đặc biệt hữu ích trong các trường hợp phẫu thuật u não, tổn thương nền sọ, sinh thiết não, các tổn thương nằm sâu hoặc ở gần những vùng chức năng quan trọng của não, nơi chỉ một sai lệch rất nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến chức năng vận động, ngôn ngữ hoặc cảm giác của người bệnh.

Bên cạnh đó, STEALTHSTATION™ S8 cũng được ứng dụng rộng rãi trong phẫu thuật cột sống, hỗ trợ phẫu thuật viên xác định chính xác các mốc giải phẫu, định vị vị trí đặt vít cuống sống và lập kế hoạch cho nhiều kỹ thuật cố định cột sống hoặc phẫu thuật ít xâm lấn. Đây là nền tảng công nghệ quan trọng, mở ra khả năng triển khai và phát triển nhiều kỹ thuật chuyên sâu trong lĩnh vực phẫu thuật thần kinh và cột sống trong tương lai.

Hướng tới môi trường phẫu thuật số

Không chỉ hỗ trợ dẫn đường trong phẫu thuật, STEALTHSTATION™ S8 còn được phát triển theo hướng sẵn sàng tích hợp với hệ thống quản lý thông tin bệnh viện (HIS), bệnh án điện tử và hệ thống lưu trữ, truyền tải hình ảnh y khoa (PACS).

Việc kết nối đồng bộ dữ liệu hình ảnh và thông tin lâm sàng sẽ giúp bác sĩ tiếp cận nhanh chóng các dữ liệu cần thiết trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện phẫu thuật, đồng thời tăng cường khả năng phối hợp đa chuyên khoa, tối ưu hóa quy trình điều trị và nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.

Trong lộ trình chuyển đổi số của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, đây được xem là một trong những nền tảng công nghệ quan trọng, hướng tới xây dựng hệ sinh thái khám chữa bệnh thông minh, nơi dữ liệu được liên thông, hỗ trợ hiệu quả cho các quyết định chuyên môn và nâng cao tính an toàn trong điều trị.

Làm chủ công nghệ để sẵn sàng triển khai

Trong chương trình bàn giao, các chuyên gia đã trực tiếp đào tạo đội ngũ bác sĩ và kỹ thuật viên của Khoa Phẫu thuật Thần kinh – Sọ não về quy trình vận hành hệ thống, xây dựng kế hoạch phẫu thuật trên dữ liệu hình ảnh, thực hiện đăng ký định vị (registration), hiệu chuẩn dụng cụ (instrument calibration) và ứng dụng hệ thống trong các tình huống lâm sàng.

Quá trình đào tạo không chỉ giúp đội ngũ y tế làm chủ công nghệ mà còn tạo nền tảng quan trọng để từng bước triển khai hiệu quả hệ thống trong thực hành lâm sàng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các kỹ thuật ngoại khoa hiện đại.

Chia sẻ về ý nghĩa của việc tiếp nhận hệ thống, BSCKII Tạ Việt Phương – Phụ trách Khoa Phẫu thuật Thần kinh – Sọ não, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cho biết: “Việc tiếp nhận và từng bước đưa hệ thống định vị phẫu thuật thần kinh STEALTHSTATION™ S8 vào sử dụng là một dấu mốc quan trọng trong quá trình ứng dụng công nghệ cao tại Khoa Phẫu thuật Thần kinh – Sọ não. Hệ thống hỗ trợ phẫu thuật viên xây dựng kế hoạch phẫu thuật khoa học, xác định chính xác vị trí tổn thương và lựa chọn đường tiếp cận tối ưu, đặc biệt trong các trường hợp có cấu trúc giải phẫu phức tạp hoặc tổn thương nằm sâu. Điều này góp phần nâng cao độ chính xác của ca mổ, bảo tồn tối đa các cấu trúc thần kinh chức năng và tăng tính an toàn cho người bệnh.

Bên cạnh đó, STEALTHSTATION™ S8 được thiết kế theo hướng sẵn sàng tích hợp với hệ thống quản lý dữ liệu y tế. Đây cũng là định hướng mà bệnh viện đang từng bước triển khai trong lộ trình chuyển đổi số, hướng tới kết nối đồng bộ với hệ thống HIS, bệnh án điện tử và các nền tảng chẩn đoán hình ảnh. Khi được tích hợp đồng bộ, hệ thống sẽ hỗ trợ bác sĩ khai thác hiệu quả dữ liệu lâm sàng, nâng cao khả năng phối hợp đa chuyên khoa và tối ưu hóa quy trình điều trị.”

Từng bước làm chủ Hệ thống định vị phẫu thuật STEALTHSTATION™ S8 tiếp tục khẳng định định hướng của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương trong việc đầu tư công nghệ cao, phát triển chuyên môn sâu và thúc đẩy chuyển đổi số trong khám chữa bệnh. Đây không chỉ là bước tiến về trang thiết bị mà còn là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng điều trị, hướng tới xây dựng môi trường y tế hiện đại, an toàn và lấy người bệnh làm trung tâm.

TĂNG TỐC HÀNH ĐỘNG LOẠI TRỪ BỆNH VIÊM GAN VI RÚT VÀ NGĂN NGỪA XƠ GAN VÀ UNG THƯ GAN

Ngày 23/7, Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) phối hợp với Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương tổ chức Hội thảo khoa học về dự phòng viêm gan vi rút, hưởng ứng Ngày Thế giới phòng, chống viêm gan (28/7) với chủ đề “Tăng tốc hành động loại trừ bệnh viêm gan vi rút và ngăn ngừa ung thư gan”.

PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hương – Thứ trưởng Bộ Y tế tới dự và chỉ đạo hội thảo. Tham dự chương trình còn có PGS.TS Phạm Đức Mạnh – Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh; lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế; đại diện các tổ chức quốc tế cùng nhiều chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực truyền nhiễm, gan mật và y tế công cộng.

Về phía Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương có TS.BS Phạm Ngọc Thạch Chủ tịch Hội Truyền nhiễm Việt Nam, Giám đốc Bệnh viện; BSCKII Nguyễn Trung Cấp – Phó Chủ tịch Hội Truyền nhiễm Việt Nam, Phó Giám đốc Bệnh viện; TS.BS Nguyễn Thanh Hà – Phó Giám đốc Bệnh viện cùng đông đảo cán bộ y tế, bác sĩ và các nhà nghiên cứu.

Phát biểu khai mạc hội thảo, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương nhấn mạnh Việt Nam là nước có tỷ lệ nhiễm viêm gan B và viêm gan C cao trong khu vực. Ứớc tính có khoảng 6,5 triệu người mắc viêm gan B và gần 1 triệu người mắc viêm gan C. Đây là những nguyên nhân chính gây ra xơ gan và ung thư gan, trong đó ung thư gan là loại ung thư phổ biến đứng thứ 2 trong tổng số các bệnh ung thư ở Việt Nam.

Hưởng ứng thông điệp của Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2026, Bộ Y tế lựa chọn chủ đề: “Tăng tốc hành động loại trừ bệnh viêm gan vi rút và ngăn ngừa ung thư gan” nhấn mạnh yêu cầu đẩy nhanh các giải pháp dự phòng, phát hiện sớm và điều trị, hướng tới mục tiêu loại trừ viêm gan vi rút vào năm 2030.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Thị Liên Hương, hội thảo là diễn đàn khoa học quan trọng để các chuyên gia, nhà khoa học và cán bộ y tế trao đổi, cập nhật bằng chứng khoa học, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong dự phòng và điều trị viêm gan vi rút. Các nội dung được thảo luận không chỉ tập trung vào nghiên cứu mà còn gắn với quản lý lâm sàng, chiến lược điều trị, tiêm chủng và giám sát bệnh phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

Bộ Y tế đánh giá cao vai trò của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cùng các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và đơn vị nghiên cứu trong việc chủ động tham gia phòng, chống viêm gan vi rút; đồng thời sẽ tiếp tục đồng hành, tạo điều kiện để các hoạt động dự phòng, điều trị, giám sát, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này được triển khai hiệu quả, bền vững.

Thứ trưởng Nguyễn Thị Liên Hương đề nghị các chuyên gia, nhà khoa học và cán bộ y tế tập trung đánh giá kết quả phòng, chống viêm gan vi rút giai đoạn 2021–2025; cập nhật tình hình dịch tễ trên thế giới, các khuyến cáo mới của WHO và hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế; chia sẻ kinh nghiệm triển khai tại các cơ sở y tế từ trung ương đến địa phương; đồng thời tăng cường năng lực xét nghiệm, điều trị và phân tuyến dịch vụ về tuyến y tế cơ sở, giúp người dân tiếp cận thuận lợi hơn với các dịch vụ chăm sóc và điều trị.

Bên cạnh đó, cần chú trọng nâng cao năng lực dự phòng và điều trị viêm gan vi rút cho cán bộ y tế tại 34 tỉnh, thành phố, đồng thời đẩy mạnh truyền thông để người dân hiểu rõ vai trò của dự phòng, phát hiện sớm và điều trị bệnh.

Thứ trưởng Nguyễn Thị Liên Hương nhận định, mục tiêu loại trừ viêm gan vi rút vào năm 2030 là một thách thức lớn, nhưng Việt Nam có nhiều công cụ hiệu quả để thực hiện mục tiêu này, như các can thiệp dự phòng lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con, vắc xin phòng viêm gan B và các thuốc điều trị đặc hiệu.

Trong phiên khoa học buổi sáng gồm 6 báo cáo chuyên đề, tập trung cập nhật những bằng chứng khoa học và thực tiễn mới nhất trong lĩnh vực viêm gan vi rút. Các chuyên gia đã trình bày tổng quan tình hình dịch tễ viêm gan vi rút trên thế giới, các khuyến nghị mới của WHO, đánh giá kết quả triển khai Chương trình phòng, chống viêm gan tại Việt Nam giai đoạn 2021–2025, đồng thời phân tích gánh nặng bệnh tật và lộ trình thực hiện mục tiêu loại trừ viêm gan vi rút vào năm 2030.

 

Nhiều nội dung chuyên môn được cập nhật như hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm gan B, C; các biện pháp dự phòng lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con; thực trạng chẩn đoán muộn và những khoảng trống trong chuỗi chăm sóc người bệnh viêm gan tại Việt Nam. Hội thảo cũng giới thiệu các bằng chứng về hiệu quả của truyền thông trong nâng cao tuân thủ điều trị thuốc kháng vi rút ở người bệnh viêm gan B mạn tính, cũng như kết quả điều trị viêm gan C ở nhóm người nghiện chích ma túy và người nhiễm HIV, góp phần khẳng định hiệu quả của các mô hình can thiệp và mở rộng tiếp cận điều trị cho các nhóm nguy cơ cao.

Phiên khoa học buổi chiều với 4 báo cáo chuyên đề tập trung vào các giải pháp nâng cao năng lực hệ thống y tế trong phòng, chống viêm gan vi rút. Các chuyên gia chia sẻ kinh nghiệm từ chương trình đào tạo do Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương phối hợp với BIDMC triển khai nhằm nâng cao năng lực chăm sóc và điều trị viêm gan cho tuyến y tế cơ sở.

Bên cạnh đó, mô hình phân tuyến điều trị viêm gan B, C tại Hưng Yên và Phú Thọ cũng được giới thiệu tại hội thảo như một giải pháp hiệu quả giúp đưa dịch vụ điều trị chất lượng đến gần người dân, giảm quá tải cho tuyến trên và tăng khả năng tiếp cận điều trị lâu dài.

Một nội dung được các đại biểu đặc biệt quan tâm là giải pháp tối ưu hóa xét nghiệm tải lượng HBV DNA, HCV RNA và HIV bằng hệ thống GeneXpert, góp phần rút ngắn thời gian trả kết quả, hỗ trợ theo dõi đáp ứng điều trị, nâng cao chất lượng quản lý người bệnh và mở rộng khả năng triển khai tại tuyến cơ sở. Hội thảo cũng hướng dẫn triển khai các hoạt động hưởng ứng Ngày Thế giới phòng, chống viêm gan vi rút, tăng cường truyền thông, sàng lọc, phát hiện sớm và kết nối điều trị trong cộng đồng.

Các phiên thảo luận diễn ra sôi nổi với nhiều ý kiến trao đổi về những khó khăn trong triển khai chương trình phòng, chống viêm gan tại địa phương, các giải pháp mở rộng tiếp cận xét nghiệm, điều trị cũng như nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các tuyến trong quản lý người bệnh.

Phát biểu bế mạc hội thảo, BSCKII Nguyễn Trung Cấp, Phó Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, nhấn mạnh những kết quả nghiên cứu, khuyến nghị chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn được chia sẻ tại hội thảo sẽ là cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện chính sách, tăng cường phối hợp giữa các đơn vị và thúc đẩy triển khai hiệu quả các giải pháp phòng, chống viêm gan vi rút.

“Những kết quả nghiên cứu, khuyến nghị chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn được chia sẻ sẽ là cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện chính sách, tăng cường phối hợp giữa các đơn vị và thúc đẩy triển khai hiệu quả các giải pháp phòng, chống viêm gan vi rút, hướng tới mục tiêu loại trừ bệnh vào năm 2030, đồng thời giảm gánh nặng xơ gan và ung thư gan tại Việt Nam”, BSCKII Nguyễn Trung Cấp nhấn mạnh.

Thay mặt Ban Tổ chức, BSCKII Nguyễn Trung Cấp trân trọng cảm ơn sự tham gia của lãnh đạo Bộ Y tế, các chuyên gia, các tổ chức quốc tế, các đơn vị đồng hành và toàn thể đại biểu đã đóng góp tích cực cho thành công của hội thảo. Ban Tổ chức cũng ghi nhận và cảm ơn sự hỗ trợ của Dự án JICA, Công ty Abbott, Tổ chức PATH và Phòng khám Hải Đăng trong quá trình tổ chức chương trình.

Trong khuôn khổ hội thảo, PGS.TS Phạm Đức Mạnh – Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh cùng Ban Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương đã đến thăm hỏi, động viên và trao quà cho các người bệnh đang điều trị tại Trung tâm Phẫu thuật Gan mật – Tiêu hóa, thể hiện sự quan tâm đối với người bệnh nhân dịp hưởng ứng Ngày Thế giới phòng, chống viêm gan.

CỨU SỐNG CỤ ÔNG NGỘ ĐỘC METHANOL NẶNG, HỒI PHỤC KHÔNG ĐỂ LẠI DI CHỨNG

Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương vừa cấp cứu thành công cụ ông 64 tuổi bị ngộ độc methanol rất nặng, rơi vào tình trạng rối loạn ý thức, toan chuyển hóa nghiêm trọng mê man và suy đa tạng. Nhờ được chẩn đoán và điều trị kịp thời, đặc biệt là lọc máu tích cực, người bệnh hồi phục hoàn toàn, không ghi nhận di chứng thần kinh hay thị lực.

Bệnh nhân là ông H.C.T. (64 tuổi, trú tại Hà Nội). Theo người nhà, ông T. có uống rượu nhưng không cho gia đình biết, sau đó về phòng nằm nghỉ. Do không biết việc này, người thân không nhận thấy bất thường. Hơn một ngày sau, thấy ông T. không ra ăn uống hay giao tiếp, gia đình vào kiểm tra thì phát hiện ông đã rơi vào trạng thái mê man, gọi hỏi không đáp ứng. Người bệnh nhanh chóng được đưa đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cấp cứu.

Thời điểm nhập viện, bệnh nhân lơ mơ, điểm hôn mê Glasgow chỉ còn 10 điểm. Các chỉ số xét nghiệm cho thấy ông T. bị toan chuyển hóa đặc biệt nghiêm trọng với pH máu tụt xuống mốc 6,8 – mức độ đe dọa trực tiếp đến tính mạng. Bệnh nhân đồng thời bị suy đa tạng, suy thận và tăng men cơ (CK) rất cao. Các bác sĩ nhận định đây là một trường hợp ngộ độc methanol cấp tính mức độ nặng.

ThS.BS Lê Sơn Việt (Khoa Cấp cứu) cho biết, ngay khi nghi ngờ bệnh nhân ngộ độc methanol, các bác sĩ đã lập tức triển khai các biện pháp hồi sức tích cực và chỉ định lọc máu cấp cứu để loại bỏ độc chất ra khỏi cơ thể. Kết quả xét nghiệm sau đó xác nhận nồng độ methanol trong máu người bệnh vượt mức 100 mg/dL (trong khi ngưỡng bình thường là dưới 20 mg/dL và mức từ 40 mg/dL đã có thể gây ngộ độc nặng).

“Methanol là một loại cồn công nghiệp, hoàn toàn khác với ethanol trong đồ uống có cồn thông thường. Khi vào cơ thể, methanol được chuyển hóa thành axit formic – chất độc tấn công mạnh vào hệ thần kinh, đặc biệt là dây thần kinh thị giác. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, người bệnh có thể bị giảm thị lực, mất thị lực hoặc mù vĩnh viễn, đồng thời có nguy cơ tổn thương não, suy đa tạng, co giật và tử vong”, BS Việt nhấn mạnh.

Sau hai ngày lọc máu tích cực, tình trạng toan chuyển hóa của bệnh nhân dần được cải thiện. Đến ngày điều trị thứ 5, người bệnh tỉnh táo, được rút ống nội khí quản và đủ điều kiện xuất viện. May mắn, bệnh nhân không ghi nhận di chứng về thần kinh hay thị lực.

Theo BS Việt, đây là trường hợp rất may mắn vì mặc dù nhập viện trong tình trạng ngộ độc methanol rất nặng, người bệnh vẫn hồi phục tốt và không để lại di chứng.  Trên thực tế, không ít  trường hợp ngộ độc methanol dù được cứu sống vẫn phải đối mặt với các di chứng nặng nề, đặc biệt là tổn thương thần kinh thị giác dẫn đến giảm thị lực hoặc mù mắt kéo dài, thậm chí vĩnh viễn.

BS Việt khuyến cáo, người dân chỉ nên sử dụng rượu có nguồn gốc rõ ràng, tuyệt đối không uống các loại rượu không rõ xuất xứ, rượu tự pha chế, các sản phẩm có nguy cơ chứa methanol hoặc các sản phẩm có nguy cơ chứa methanol.

Sau khi uống rượu, nếu xuất hiện các dấu hiệu bất thường như mệt mỏi nhiều, đau đầu, buồn nôn, nôn, nhìn mờ, lơ mơ hoặc rối loạn ý thức, người bệnh cần được đưa đến cơ sở y tế càng sớm càng tốt. Đặc biệt, tình trạng nhìn mờ hoặc rối loạn thị giác là một trong những dấu hiệu cảnh báo quan trọng của ngộ độc methanol. Người dân không nên chủ quan cho rằng đây chỉ là biểu hiện của say rượu thông thường, bởi việc chậm trễ điều trị có thể làm mất cơ hội bảo tồn thị lực và đe dọa tính mạng người bệnh.

CHỈ ĐAU ÂM Ỉ 2 NGÀY, CỤ ÔNG GẦN 70 TUỔI SUÝT GẶP BIẾN CHỨNG NẶNG DO VIÊM RUỘT THỪA

Chỉ đau âm ỉ vùng bụng khoảng hai ngày, người đàn ông gần 70 tuổi nghĩ mình chỉ bị rối loạn tiêu hóa thông thường. Thế nhưng, khi lên bàn mổ, các bác sĩ phát hiện ổ bụng đã xuất hiện dịch viêm kèm giả mạc, cho thấy tình trạng viêm ruột thừa đã tiến triển nặng. Đáng chú ý, người bệnh còn có một biến đổi giải phẫu hiếm gặp khiến ca mổ trở nên khó khăn hơn. Nếu tiếp tục chậm trễ, người bệnh có nguy cơ vỡ ruột thừa, gây viêm phúc mạc và nhiều biến chứng nguy hiểm.

Ông N.V.T. (ở Hà Nội) nhập viện tại Trung tâm Phẫu thuật Gan mật và Tiêu hóa, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, trong tình trạng đau âm ỉ vùng hố chậu phải kéo dài khoảng hai ngày. Do sốt nhẹ, cơn đau không dữ dội nên triệu chứng rất dễ bị bỏ qua, đặc biệt ở người cao tuổi – nhóm bệnh nhân thường có biểu hiện viêm ruột thừa không điển hình. ThS.BSNT Đặng Hoàng Quốc cho biết, khi thăm khám, người bệnh có đau và phản ứng thành bụng rõ vùng hố chậu phải. Kết quả xét nghiệm ghi nhận số lượng bạch cầu tăng lên 19.000/mm³, gần gấp đôi so với bình thường, cho thấy cơ thể đang có phản ứng viêm cấp. Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính cho thấy ruột thừa tăng kích thước khoảng 7 mm, kèm thâm nhiễm mỡ xung quanh – dấu hiệu viêm đã lan sang các mô lân cận. Người bệnh được chẩn đoán viêm ruột thừa cấp và chỉ định phẫu thuật nội soi cấp cứu.

Tuy nhiên, khi tiến hành phẫu thuật, ê-kíp ghi nhận tình trạng bệnh nặng hơn so với hình ảnh ban đầu. Trong ổ bụng đã xuất hiện dịch đục lẫn giả mạc khu trú tại hố chậu phải sau thời gian bệnh tiến triển khoảng 2 ngày. Đặc biệt, trong quá trình phẫu thuật, ê-kíp phát hiện đầu ruột thừa cắm sâu vào gốc mạc treo ruột non – một biến đổi giải phẫu hiếm gặp. Đây là khu vực tập trung nhiều mạch máu nuôi ruột nên việc bóc tách đòi hỏi sự tỉ mỉ và chính xác. “Thông thường chỉ cần bộc lộ ruột thừa rồi cắt bỏ. Tuy nhiên, ở trường hợp này, chúng tôi phải bóc tách rất cẩn thận để giải phóng đầu ruột thừa khỏi gốc mạc treo ruột non. Nếu làm tổn thương các mạch máu nuôi ruột, người bệnh có nguy cơ thiếu máu, hoại tử ruột non và phải cắt thêm một đoạn ruột”, BS Quốc cho biết.

Sau khi bóc tách an toàn, ê-kíp tiến hành cắt ruột thừa bằng phương pháp nội soi, đồng thời rửa sạch ổ bụng và đặt dẫn lưu ổ bụng. Người bệnh hồi phục thuận lợi sau phẫu thuật. Sau mổ ngày thứ nhất, ông N.V.T. hết sốt, đánh hơi được, được cho ăn lại qua đường miệng. Sau mổ 3 ngày, bệnh nhân được rút bỏ dẫn lưu ổ bụng do lượng dịch ra hàng ngày rất ít. Bệnh nhân ổn định, ra viện sau 5 ngày điều trị.

Theo BS Quốc, viêm ruột thừa có thể chỉ có biểu hiện bằng đau âm ỉ vùng hố chậu phải, kèm buồn nôn, nôn hoặc cảm giác mót rặn nên người bệnh dễ chủ quan không đi khám dẫn tới bệnh tiến triển nặng. Ở người cao tuổi, bệnh càng dễ bị chẩn đoán muộn do ở lứa tuổi này, hệ miễn dịch suy giảm nên triệu chứng thường không điển hình, ít sốt hoặc đau không rầm rộ như ở người trẻ.

BS Quốc khuyến cáo, khi xuất hiện đau vùng hố chậu phải, đặc biệt kèm buồn nôn, nôn, sốt hoặc rối loạn tiêu hóa, người dân cần đến cơ sở y tế để được thăm khám sớm nhằm loại trừ viêm ruột thừa. Riêng với người cao tuổi, dù chỉ đau bụng âm ỉ cũng không nên chủ quan vì bệnh có thể đã tiến triển nặng. Việc phát hiện và phẫu thuật ở giai đoạn sớm giúp cuộc mổ đơn giản, giảm nguy cơ biến chứng và rút ngắn thời gian hồi phục. Ngược lại, nếu trì hoãn điều trị, ruột thừa có thể vỡ, gây viêm phúc mạc, thậm chí phải cắt thêm một đoạn ruột, làm cuộc phẫu thuật trở nên phức tạp, thời gian điều trị kéo dài và nguy cơ biến chứng tăng cao.

BỊ GÀ MỔ, NGÃ XE TƯỞNG NHẸ, HAI NGƯỜI BỆNH NGUY KỊCH VÌ UỐN VÁN

Không ít người vẫn cho rằng uốn ván chỉ xảy ra khi giẫm phải đinh gỉ sét hoặc bị vật kim loại hoen gỉ đâm vào người. Chính quan niệm sai lầm này khiến nhiều trường hợp chủ quan với những vết thương nhỏ, để rồi phải nhập viện trong tình trạng nguy kịch vì một căn bệnh có tỷ lệ tử vong cao nhưng hoàn toàn có thể phòng ngừa bằng tiêm phòng.

Bị gà mổ vào chân, cụ ông 94 tuổi nguy kịch vì uốn ván

Đó là trường hợp của cụ ông H.V.L. (94 tuổi, Hưng Yên). Cách nhập viện khoảng 10 ngày, cụ bị gà mổ vào gót chân trái. Nghĩ rằng chỉ là một vết thương nhỏ, gia đình chỉ rửa qua bằng nước sạch và không đến cơ sở y tế xử trí hay tiêm phòng uốn ván.

Vài ngày sau, cụ ông bắt đầu xuất hiện đau mỏi toàn thân, cứng cổ, miệng khó há, ăn uống dễ sặc. Khi được đưa đến bệnh viện tuyến dưới, cụ đã trong tình trạng da lạnh, vã mồ hôi, ứ đọng đờm dãi, gây tắc đường thở và phải đặt nội khí quản hỗ trợ hô hấp trước khi chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Bác sĩ Trương Tư Thế Bảo, Khoa Cấp cứu, cho biết khi nhập viện, người bệnh có tình trạng gồng cứng toàn thân, tăng trương lực cơ mức độ nặng, chỉ số viêm CRP tăng 47 mg/L, bạch cầu tăng 12,8 G/L. Vết thương ở gót chân đã khô bề mặt, đây chính là “đường vào” để vi khuẩn uốn ván xâm nhập. Người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh uốn ván toàn thể mức độ nặng, nguy cơ tử vong cao do tuổi cao, xuất hiện nhiều cơn co cứng, chẹn ngực.

Vết thương sau ngã xe tưởng đã lành vẫn dẫn đến uốn ván nặng

Một trường hợp khác là anh T.V.Đ. (50 tuổi, Bắc Ninh). Anh có tiền sử uống rượu nhiều năm khiến thể trạng suy giảm. Sau một lần ngã xe, anh bị vết thương ở lòng bàn tay trái nhưng không được xử trí đúng cách. Khi nhập viện, người bệnh đã xuất hiện những cơn giật cứng toàn thân liên tục, suy hô hấp, tím tái, phải đặt ống nội khí quản.

Ban đầu, người bệnh được chẩn đoán là suy hô hấp và viêm màng não. Tuy nhiên, sau khi chuyển đến Trung tâm Hồi sức tích cực, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, qua khai thác tiền sử và thăm khám, các bác sĩ phát hiện vết thương ở lòng bàn tay trái kích thước khoảng 3 x 3 cm, sâu lộ xương dù bề mặt đã khô. Cùng với các biểu hiện lâm sàng như co cứng cơ, giật cứng toàn thân, các bác sĩ chẩn đoán người bệnh mắc uốn ván toàn thể mức độ nặng.

Người bệnh có bạch cầu tăng 14,73 G/L, CRP tăng cao, phải mở khí quản cấp cứu, nuôi ăn qua sonde và điều trị hồi sức tích cực do nguy cơ suy hô hấp và sốc nhiễm khuẩn.

Đừng chỉ nghĩ uốn ván đến từ “đinh gỉ”

Qua hai trường hợp trên, các bác sĩ cho biết nhiều người vẫn lầm tưởng chỉ giẫm phải đinh gỉ hoặc bị sắt thép hoen gỉ đâm mới mắc uốn ván. Thực tế, vi khuẩn uốn ván (Clostridium tetani) tồn tại phổ biến trong đất, cát, bụi bẩn và phân gia súc, gia cầm. Khi nha bào xâm nhập qua các vết thương hở, đặc biệt là những vết thương sâu hoặc nhiễm bẩn, chúng có thể phát triển và tiết độc tố gây bệnh uốn ván.

Vì vậy, một vết gà mổ, vết gai đâm, vết trầy xước do ngã xe hay bất kỳ vết thương hở nào tiếp xúc với môi trường bẩn đều có nguy cơ nhiễm vi khuẩn uốn ván nếu không được xử trí đúng cách.

Việc chỉ rửa vết thương bằng nước sạch không đủ để loại bỏ nha bào uốn ván. Đối với các vết thương hở, vết thương sâu, dập nát hoặc có nguy cơ nhiễm bẩn, người dân cần đến cơ sở y tế để được làm sạch, sát khuẩn đúng quy trình và đánh giá chỉ định tiêm huyết thanh kháng uốn ván (SAT) hoặc vắc-xin phòng uốn ván nếu cần.

Uốn ván là bệnh truyền nhiễm cấp tính có tỷ lệ tử vong cao, dao động từ 10% đến trên 50%, đặc biệt ở người cao tuổi và người có bệnh nền nếu không được điều trị hồi sức tích cực kịp thời. Chi phí điều trị một ca uốn ván nặng phải thở máy, dùng thuốc an thần kéo dài và chăm sóc hồi sức có thể lên tới hàng trăm triệu đồng, chưa kể thời gian điều trị kéo dài và nguy cơ để lại nhiều di chứng nặng. Trong khi đó, chỉ một mũi vắc-xin phòng uốn ván hoặc một liều huyết thanh kháng uốn ván khi được chỉ định sau chấn thương có thể giúp phòng ngừa căn bệnh nguy hiểm này. Đừng để sự chủ quan với một vết thương nhỏ phải trả giá bằng sức khỏe, thậm chí là tính mạng.

ThS.Bs Trương Tư Thế Bảo, Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương khuyến cáo: Người dân không nên chủ quan với bất kỳ vết thương hở nào, dù chỉ là vết trầy xước, gai đâm, gà mổ hay vết thương do ngã xe. Điều quan trọng không phải kích thước vết thương mà là nguy cơ nhiễm bệnh. Với những người chưa tiêm phòng đầy đủ, không nhớ tiền sử tiêm chủng hoặc đã nhiều năm chưa tiêm nhắc lại, cần đến cơ sở y tế để được đánh giá nguy cơ mắc uốn ván và chỉ định tiêm vắc-xin, hoặc phối hợp với huyết thanh kháng uốn ván (SAT) khi cần thiết. Điều đáng tiếc là phần lớn các trường hợp uốn ván nặng đều bắt đầu từ những vết thương rất nhỏ mà người bệnh cho rằng không đáng lo ngại. Đừng đánh đổi sức khỏe, thậm chí là tính mạng, chỉ vì sự chủ quan với một vết thương tưởng chừng vô hại.

TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG MẠNG LƯỚI QUẢN LÝ SỬ DỤNG KHÁNG SINH, HƯỚNG TỚI KIỂM SOÁT KHÁNG KHÁNG SINH BỀN VỮNG

Ngày 16/7/2026, tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương đã diễn ra cuộc họp tổng kết hoạt động Mạng lưới triển khai Quản lý sử dụng kháng sinh (ASPARNet) trong khuôn khổ dự án 60HN-ASPARNet. Đây là dịp để các đơn vị cùng nhìn lại kết quả sau gần hai năm triển khai, đánh giá những tác động bước đầu và thống nhất định hướng duy trì, phát triển mạng lưới trong thời gian tới.

Tham dự cuộc họp có TS.BS Phạm Ngọc Thạch – Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương; BSCKII Nguyễn Trung Cấp – Phó Giám đốc; TS.BS Nguyễn Thanh Hà – Phó Giám đốc; đại diện Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford (OUCRU) tại Hà Nội, Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp, Sở Y tế tỉnh Phú Thọ cùng lãnh đạo, cán bộ chuyên môn của 12 bệnh viện, trung tâm y tế tham gia mạng lưới và các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý sử dụng kháng sinh, dược lâm sàng, vi sinh, kiểm soát nhiễm khuẩn.

Phát biểu khai mạc, BSCKII Nguyễn Trung Cấp nhấn mạnh, với vai trò là bệnh viện tuyến Trung ương chuyên sâu về bệnh truyền nhiễm, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương không chỉ thực hiện nhiệm vụ điều trị mà còn chú trọng đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao kỹ thuật và dẫn dắt chuyên môn cho các cơ sở y tế trên cả nước. Đánh giá cao sự hợp tác giữa Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương và OUCRU, BSCKII Nguyễn Trung Cấp cho rằng các hoạt động nghiên cứu và phát triển năng lực đã tạo ra nhiều bằng chứng khoa học có giá trị, góp phần đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng kháng sinh và kiểm soát kháng kháng sinh. Ông nhấn mạnh: “Đây không phải là mô hình hỗ trợ một chiều mà là quá trình các bệnh viện cùng chia sẻ kinh nghiệm, cùng nhận diện và giải quyết những khó khăn trong thực tiễn, từ đó xây dựng các giải pháp phù hợp với bối cảnh của Việt Nam. Những kết quả đạt được sẽ là nền tảng để tiếp tục mở rộng hợp tác trong nghiên cứu, đào tạo và phát triển năng lực chuyên môn cho các bệnh viện.”

Dự án 60HN-ASPARNet được triển khai nhằm nâng cao hiệu quả chương trình Quản lý sử dụng kháng sinh thông qua nghiên cứu hành động có sự tham gia và xây dựng mạng lưới các bệnh viện triển khai chương trình tại Việt Nam. Trong gần hai năm qua, các đơn vị tại Đồng Tháp và Phú Thọ đã thực hiện nhiều hoạt động như đánh giá thực trạng, khảo sát thực hành sử dụng kháng sinh, đào tạo, tập huấn, hỗ trợ chuyên môn và tăng cường chia sẻ kinh nghiệm giữa các bệnh viện. Tại cuộc họp, các đơn vị thành viên đã chia sẻ nhiều mô hình triển khai hiệu quả. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ giới thiệu kinh nghiệm xây dựng và ứng dụng báo cáo kháng sinh đồ tích lũy (Antibiogram), hỗ trợ bác sĩ lựa chọn kháng sinh ban đầu phù hợp và nâng cao hiệu quả điều trị.
Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc trình bày kết quả triển khai thí điểm bộ công cụ iSHARP – nền tảng tích hợp hỗ trợ quản lý sử dụng kháng sinh, kiểm soát nhiễm khuẩn và phòng ngừa kháng kháng sinh. Trong khi đó, Trung tâm Y tế khu vực Lấp Vò chia sẻ kinh nghiệm triển khai hoạt động giám sát và phản hồi sử dụng kháng sinh trong thực hành lâm sàng. Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp giới thiệu mô hình hỗ trợ chuyên môn cho các đơn vị trong mạng lưới, tập trung vào giám sát sử dụng kháng sinh, vi sinh, kiểm soát nhiễm khuẩn và ứng dụng công cụ iSHARP.
Một nội dung quan trọng của chương trình là đánh giá những tác động bước đầu của dự án ASPARNet tại Đồng Tháp và Phú Thọ. Qua đó, các đại biểu ghi nhận sự cải thiện về năng lực triển khai chương trình Quản lý sử dụng kháng sinh, tăng cường kết nối giữa các cơ sở y tế và phát huy hiệu quả của mô hình hỗ trợ, chia sẻ chuyên môn trong mạng lưới. Tại phiên thảo luận, các chuyên gia tập trung trao đổi ba nhóm nội dung trọng tâm gồm: tăng cường phối hợp giữa Quản lý sử dụng kháng sinh và kiểm soát nhiễm khuẩn trong kiểm soát kháng kháng sinh; xây dựng hướng dẫn điều trị và triển khai hoạt động giám sát, phản hồi sử dụng kháng sinh; phát triển năng lực vi sinh lâm sàng và xây dựng, ứng dụng kháng sinh đồ tích lũy.
Mặc dù dự án 60HN-ASPARNet sắp kết thúc, các đơn vị thống nhất tiếp tục duy trì và mở rộng mạng lưới hợp tác. Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cam kết tiếp tục đồng hành cùng các địa phương, các bệnh viện và OUCRU trong nghiên cứu khoa học, phát triển năng lực chuyên môn và triển khai các giải pháp dựa trên bằng chứng, góp phần nâng cao chất lượng điều trị, sử dụng kháng sinh hợp lý và kiểm soát kháng kháng sinh bền vững. Cuộc họp không chỉ tổng kết những kết quả đạt được của dự án 60HN-ASPARNet mà còn mở ra những cơ hội hợp tác mới trong nghiên cứu, đào tạo và phát triển mạng lưới quản lý sử dụng kháng sinh tại Việt Nam.

MẮC BỆNH DA LIỄU DI TRUYỀN HIẾM GẶP SUỐT 6 NĂM, NGƯỜI PHỤ NỮ PHẢI QUẤN KHĂN QUANH NGƯỜI VÌ DA CHẢY DỊCH

Suốt 6 năm sống chung với căn bệnh da liễu hiếm gặp, người phụ nữ 54 tuổi liên tục phải chịu đựng những vùng da trợt loét, chảy dịch và đau rát ở khắp các nếp gấp trên cơ thể. Dịch tiết nhiều đến mức bà luôn phải quấn khăn quanh người để tránh làm ướt quần áo. Sau nhiều năm điều trị tại nhiều cơ sở y tế nhưng bệnh vẫn liên tục tái phát. Theo chai sẻ của người bệnh, đây là lần đầu tiên người bệnh kiểm soát được các tổn thương sau khi điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, vừa tiếp nhận và điều trị cho bà V.T.M. (54 tuổi, Hải Phòng). Người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh Hailey-Hailey (hay còn gọi là bệnh pemphigus gia đình lành tính)- một bệnh da liễu di truyền hiếm gặp (tỉ lệ mắc là 1:50.000) với các triệu chứng mảng da đỏ, trợt, bọng nước, chảy dịch, rất đau đớn và tái phát thường xuyên, hay gặp ở vùng nếp gấp.

Khi nhập viện, bệnh nhân xuất hiện nhiều vùng da đỏ, sưng nề, trợt, chảy dịch lan rộng ở hai bên cổ, nách, nếp lằn vú, bẹn, khuỷu tay, khoeo chân và rất đau đớn. Bà M. chia sẻ, bà đã mắc bệnh suốt 6 năm, trong đó 2 năm gần đây tình trạng ngày càng nặng. Các đợt bùng phát xảy ra liên tục khiến vùng da ở các nếp gấp luôn trong tình trạng lở loét, đau rát, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống hằng ngày. Bà đã nhiều lần điều trị tại các cơ sở y tế ở Hà Nội và Hải Phòng nhưng các tổn thương chỉ cải thiện trong thời gian ngắn rồi nhanh chóng tái phát. Đáng chú ý, khai thác tiền sử gia đình cho thấy bố, chú ruột và em gái của bệnh nhân đều mắc tình trạng tương tự, gợi ý rõ yếu tố di truyền của bệnh.

Bác sĩ Phạm Minh Tâm (Bác sĩ chuyên khoa Da liễu, Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa) cho biết, sau khi thăm khám toàn diện và làm các xét nghiệm cần thiết, bệnh nhân được xác định mắc Hailey-Hailey. Đây là bệnh lý do đột biến gen làm rối loạn sự liên kết giữa các tế bào lớp thượng bì, khiến lớp thượng bì da trở nên lỏng lẻo, dễ trợt nứt và hình thành bọng khi có ma sát hoặc trong môi trường ẩm ướt, ra mồ hôi nhiều (như vùng cổ, nách, dưới vú, bẹn…) hoặc nhiễm khuẩn, nhiễm nấm, nhiễm virus herpes.

“Hailey-Hailey không phải bệnh nhiễm trùng đơn thuần hay viêm da cơ địa thông thường mà là bệnh mạn tính có tính chất di truyền. Các yếu tố như nhiệt độ cao, tăng tiết mồ hôi, ma sát, hoặc tình trạng bội nhiễm vi khuẩn, virus, nấm đều có thể khiến bệnh bùng phát dữ dội hơn”- BS Phạm Minh Tâm phân tích.
Sau khi nhập viện, bệnh nhân được điều trị nội khoa bằng thuốc uống, thuốc bôi kết hợp kiểm soát tình trạng bội nhiễm. Để hạn chế nguy cơ tái phát lâu dài, các bác sĩ xây dựng phác đồ điều trị duy trì, trong đó tiêm Botulinum toxin A (Botox) nhằm giảm tiết mồ hôi được lựa chọn như một biện pháp điều trị hỗ trợ. Việc giảm tiết mồ hôi giúp hạn chế tình trạng ẩm ướt tại các vùng nếp gấp, tạo điều kiện để tổn thương cũ lành thương và hạn chế bùng phát bệnh. Do diện tích tổn thương da quá rộng, tiết dịch và người bệnh đau nhiều, các bác sĩ không thể thực hiện ủ tê tại chỗ như thông thường nên thủ thuật được tiến hành trong phòng mổ với hỗ trợ giảm đau để bảo đảm an toàn và giảm tối đa sự khó chịu cho người bệnh.

Sau 7 ngày điều trị, các vùng da trợt loét đã khô se, hết chảy dịch và giảm đau rõ rệt. Người bệnh được xuất viện và tiếp tục tái khám định kỳ hằng tháng để theo dõi, điều trị duy trì.

Theo BS Tâm, bệnh Hailey-Hailey (bệnh pemphigus gia đình lành tính) là bệnh da di truyền hiếm gặp. Trong nhiều năm công tác tại chuyên ngành Da liễu, bác sĩ chỉ gặp rất ít trường hợp tương tự. Mặc dù hiện nay chưa có phương pháp điều trị khỏi hoàn toàn, nhưng nếu được chẩn đoán đúng, điều trị phù hợp và kiểm soát tốt các yếu tố làm bệnh bùng phát, người bệnh hoàn toàn có thể kiểm soát tình trạng bệnh, hạn chế tái phát và cải thiện chất lượng cuộc sống.

BS Tâm khuyến cáo, khi xuất hiện các tổn thương kéo dài ở vùng nếp gấp như nách, cổ, dưới vú, bẹn… với biểu hiện trợt loét, chảy dịch, tái phát nhiều lần, người bệnh nên đến khám tại cơ sở y tế có chuyên khoa da liễu để được chẩn đoán chính xác. Người mắc bệnh Hailey-Hailey cần được theo dõi điều trị lâu dài, đồng thời duy trì cân nặng hợp lý, giữ vùng da nếp gấp luôn khô thoáng, hạn chế ma sát và kiểm soát tình trạng tăng tiết mồ hôi cùng các yếu tố khởi phát nhằm hạn chế nguy cơ bệnh tái phát.

CẬP NHẬT TIẾN BỘ MỚI TRONG QUẢN LÝ BỆNH GAN MẠN VÀ PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ GAN

Sáng 15/7, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương phối hợp với Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới và Công ty TNHH Roche Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Tối ưu hóa quản lý bệnh lý gan mạn và giám sát ung thư biểu mô tế bào gan”. Hội thảo diễn ra theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, thu hút đông đảo chuyên gia, bác sĩ và cán bộ y tế tham dự tại hai điểm cầu cùng nhiều đại biểu trên cả nước.

Phát biểu khai mạc hội thảo, BSCKII Nguyễn Trung Cấp – Phó Chủ tịch Hội Truyền nhiễm Việt Nam, Phó Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương nhấn mạnh: Bệnh lý gan mạn, đặc biệt do viêm gan virus B, viêm gan virus C và các bệnh gan liên quan đến rối loạn chuyển hóa, vẫn là gánh nặng lớn đối với ngành y tế Việt Nam. Đây là các nguyên nhân hàng đầu dẫn đến xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) – một trong những loại ung thư có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất hiện nay.

 “Thách thức lớn nhất trong quản lý ung thư gan là nhiều trường hợp chỉ được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, làm giảm cơ hội điều trị triệt căn. Vì vậy, việc xây dựng chiến lược quản lý bệnh gan mạn toàn diện, kết hợp đánh giá nguy cơ và giám sát định kỳ để phát hiện sớm ung thư gan”, BSCKII Nguyễn Trung Cấp cho biết.

Hội thảo gồm ba chuyên đề chuyên sâu, phản ánh toàn diện hành trình quản lý người bệnh từ tầm soát, điều trị bệnh gan mạn đến điều trị ung thư gan giai đoạn sớm.

Mở đầu chương trình, BS.CKII Vũ Thị Thu Hương – Giám đốc Trung tâm Khám chữa bệnh theo yêu cầu và Quốc tế, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương trình bày chuyên đề “Tối ưu hóa chiến lược giám sát ung thư biểu mô tế bào gan ở nhóm bệnh nhân nguy cơ cao”. Báo cáo cập nhật thực trạng ung thư gan tại Việt Nam và những hạn chế của phương pháp tầm soát truyền thống chỉ dựa vào siêu âm hoặc AFP. Đặc biệt, báo cáo nhấn mạnh vai trò của các dấu ấn sinh học mới như PIVKA-II, giúp nâng cao khả năng phát hiện ung thư gan giai đoạn sớm, nhất là ở những bệnh nhân có AFP bình thường hoặc mắc bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa (MASLD). Đồng thời, các hướng dẫn mới của Bộ Y tế cũng khuyến nghị kết hợp siêu âm với bộ ba dấu ấn sinh học gồm AFP, AFP-L3 và PIVKA-II trong chương trình giám sát định kỳ đối với nhóm bệnh nhân nguy cơ cao.

Tiếp nối chương trình, BSCKII Đào Bách Khoa – Trưởng khoa Khám bệnh theo yêu cầu – Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới chia sẻ chuyên đề “Quản lý toàn diện bệnh gan mạn và xơ gan trong thực hành lâm sàng”, tập trung vào chiến lược can thiệp sớm nhằm ngăn chặn tiến triển của bệnh gan mạn trước khi xuất hiện các biến chứng mất bù. Báo cáo cập nhật nhiều khuyến cáo quốc tế mới như danh pháp MASLD, chiến lược “Shift Left”, ứng dụng các phương pháp đánh giá xơ hóa gan không xâm lấn (NITs), đo độ cứng gan theo khuyến cáo Baveno VII và các biện pháp dự phòng tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Theo BS. Khoa, điều trị nguyên nhân từ sớm, đặc biệt đối với viêm gan B và viêm gan C, vẫn là yếu tố cốt lõi giúp đảo ngược xơ hóa gan và giảm nguy cơ tiến triển thành ung thư gan.

Ở chuyên đề cuối cùng, TS.BS Nguyễn Minh Trọng – Giám đốc Trung tâm Phẫu thuật Gan mật – Tiêu hóa, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương trình bày về “Vai trò của phẫu thuật trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan phát hiện qua chương trình tầm soát”. Báo cáo khẳng định phẫu thuật cắt gan vẫn là phương pháp điều trị ưu tiên đối với những trường hợp ung thư gan được phát hiện ở giai đoạn rất sớm hoặc giai đoạn sớm,  với tỷ lệ sống sau 5 năm trên 50–70%. Bên cạnh đó, các kỹ thuật ngoại khoa hiện đại như cắt gan giải phẫu, thuyên tắc tĩnh mạch cửa (PVE), ALPPS hay kết hợp cắt gan với đốt u tại chỗ đã mở rộng cơ hội điều trị cho nhiều người bệnh. Báo cáo cũng nhấn mạnh vai trò của điều trị kháng virus và theo dõi các dấu ấn sinh học như PIVKA-II, AFP trong đánh giá hiệu quả điều trị cũng như phát hiện sớm nguy cơ tái phát sau phẫu thuật.

Phần thảo luận diễn ra sôi nổi với nhiều câu hỏi thực tiễn từ các bác sĩ tham dự trực tiếp và trực tuyến, xoay quanh việc ứng dụng các khuyến cáo mới vào thực hành lâm sàng, lựa chọn chiến lược tầm soát phù hợp và tối ưu hóa điều trị đối với người bệnh gan mạn và ung thư gan.

Kết thúc hội thảo, Ban Chủ tọa nhấn mạnh ba định hướng quan trọng trong quản lý bệnh gan mạn và ung thư gan: tăng cường phát hiện sớm bằng các phương pháp chẩn đoán hiện đại và dấu ấn sinh học; quản lý toàn diện bệnh gan mạn từ giai đoạn sớm để ngăn ngừa xơ gan và biến chứng; đồng thời tối ưu hóa điều trị đa mô thức kết hợp nội khoa, ngoại khoa và theo dõi lâu dài. Qua đó, hội thảo cũng góp phần tăng cường kết nối chuyên môn giữa các cơ sở y tế, thúc đẩy nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng các tiến bộ y học vào thực hành lâm sàng, hướng tới nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.

Một số hình ảnh khác:

DANH MỤC BỆNH TRUYỀN NHIỄM THUỘC CÁC NHÓM BỆNH TRUYỀN NHIỄM

Ngày 01/07/2026, Bộ Y tế đã có văn bản Quyết định Về việc ban hành danh mục bệnh truyền nhiễm thuộc các nhóm bệnh truyền nhiễm.

  • Căn cứ Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15;
  • Căn cứ Nghị định số 42/2025/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;
  • Căn cứ Thông tư số 15/2026/TT-BYT ngày 17 tháng 5 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh;
  • Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế.

Click link để xem hướng dẫn chi tiết: 1626. Q _BYT-danh muc benh-truyen-nhiem-29.6.2026.signed

ĂN TIẾT CANH, 2 NGÀY SAU NGƯỜI ĐÀN ÔNG 45 TUỔI VIÊM MÀNG NÃO, PHÙ NÃO NGUY KỊCH

Chỉ hai ngày sau khi ăn tiết canh lợn, ông Đ.V.C. 45 tuổi (ở Bắc Ninh) đang khỏe mạnh bất ngờ sốt cao, đau đầu, buồn nôn rồi nhanh chóng rơi vào tình trạng rối loạn ý thức. Bệnh nhân được chẩn đoán viêm màng não nghi do nhiễm liên cầu lợn và đang được điều trị tích cực tại Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Theo người nhà, khoảng 4 ngày trước khi nhập viện, người bệnh có ăn tiết canh lợn. Hai ngày sau, bệnh nhân xuất hiện sốt, đau đầu, buồn nôn. Các triệu chứng diễn tiến rất nhanh, người bệnh trở nên rối loạn ý thức, lơ mơ, kích thích, được đưa đến cơ sở y tế gần nhà. Do tình trạng nặng, bệnh nhân được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương để tiếp tục điều trị.

ThS.BSNT Phan Văn Mạnh cho biết, khi nhập viện, bệnh nhân trong tình trạng giảm ý thức, Glasgow 9 điểm (thang điểm đánh giá ý thức), kèm dấu hiệu điển hình của viêm màng não cấp. Bệnh nhân được chẩn đoán Viêm màng não, theo dõi do Streptococcus suis (Liên cầu lợn).

Theo bác sĩ Mạnh, ở những trường hợp viêm màng não cấp có rối loạn ý thức, biến chứng đáng lo ngại nhất là phù não. Đây là tình trạng có thể làm tăng nhanh áp lực nội sọ, gây tổn thương não nghiêm trọng, đe dọa tính mạng nếu không được xử trí kịp thời.

Ngay sau khi tiếp nhận, bệnh nhân được đặt ống nội khí quản, thở máy, kháng sinh và triển khai đồng thời nhiều biện pháp hồi sức tích cực nhằm kiểm soát phù não.

Sau 4 ngày điều trị tích cực, tình trạng bệnh nhân cải thiện, rút được ống nội khí quản. Bệnh nhân sau đó được chuyển lên khoa Nhiễm khuẩn Tổng hợp để tiếp tục điều trị.

Theo ThS.BSNT Phan Văn Mạnh, liên cầu lợn là căn nguyên gây viêm màng não người lớn hàng đầu ở Việt Nam. Ngoài viêm màng não, vi khuẩn này có thể gây nhiễm khuẩn huyết với các biểu hiện nặng như ban xuất huyết, rối loạn đông máu, sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng và tử vong cao nếu không được điều trị kịp thời.

Đáng lưu ý, mặc dù bệnh nhân khai có ăn tiết canh lợn, trên thực tế, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương từng tiếp nhận không ít trường hợp cho biết chỉ ăn tiết canh gà, dê hoặc các loại tiết canh khác nhưng cuối cùng vẫn được xác định mắc liên cầu lợn. Theo các bác sĩ, nguyên nhân có thể do trong quá trình chế biến, một số nơi đã pha trộn tiết lợn vào các loại tiết canh khác, làm tăng nguy cơ lây nhiễm vi khuẩn.

BS Mạnh khuyến cáo, người dân tuyệt đối không nên ăn tiết canh hoặc các sản phẩm từ thịt lợn chưa được nấu chín kỹ. Khi xuất hiện các triệu chứng như sốt, đau đầu, buồn nôn sau khi ăn tiết canh hoặc tiếp xúc với lợn bệnh, cần đến ngay cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị kịp thời.

DUY TRÌ TƯ THẾ NGỒI HỌC SAI NHIỀU NĂM, THIẾU NIÊN 16 TUỔI GÙ LƯNG, CỔ RỤT

Nhiều bậc phụ huynh thường tặc lưỡi cho qua khi thấy con em mình ngồi học với những tư thế vẹo vọ, “thoải mái” trên ghế. Tuy nhiên, nếu không được cha mẹ quan tâm, nhắc nhở và điều chỉnh kịp thời, những thói quen ngồi học sai tư thế có thể làm tăng nguy cơ hình thành các rối loạn tư thế, ảnh hưởng đến sự phát triển hệ cơ xương ở trẻ.

Thói quen ngồi học sai nhiều năm để lại hệ lụy cho cột sống

Ở tuổi 16 – giai đoạn cơ thể đang phát triển mạnh về thể chất, đáng lẽ em phải có vóc dáng cân đối và tự tin, thì em Đ.H.T. (16 tuổi, Hà Nội) lại phải gánh chịu một hệ lụy nặng nề về hình thể. Em được mẹ đưa đến Khoa Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương trong tình trạng bị gù vẹo cột sống nghiêm trọng, dáng đi gù, cổ rụt sâu xuống thấy rõ.

Qua thăm khám và khai thác tiền sử, bác sĩ CKI Lê Nguyên Long, Phó Trưởng khoa Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng nhận định tình trạng gù, vẹo, lệch cột sống lưng, rối loạn tư thế của bệnh nhân có liên quan đến việc duy trì tư thế ngồi học sai trong thời gian dài. Từ đó, bác sĩ đã xây dựng phác đồ phục hồi chức năng toàn diện cho bệnh nhân với các phương pháp như: xoa bóp, tác động cột sống, chiếu tia hồng ngoại nhằm giảm co cứng cơ, tăng tuần hoàn tại chỗ; tập vận động cột sống cổ – lưng trên bóng, thang tường và với tạ tay giúp cải thiện tầm vận động, hỗ trợ điều chỉnh tư thế, giảm đau, giãn cơ và tăng tuần hoàn vùng cổ, vai, lưng. Ngoài ra, bệnh nhân còn được kết hợp điều trị bằng điện xung, sóng xung kích và siêu âm theo chỉ định.

Sau một liệu trình điều trị, dưới sự hướng dẫn vận động của các y bác sĩ, cùng với sự phối hợp, hỗ trợ sát sao của gia đình, tình trạng co cứng cơ vùng cổ – vai – lưng của cháu T. được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, bác sĩ Long cho biết đây mới chỉ là giai đoạn đầu của quá trình phục hồi. Để cải thiện tư thế và phục hồi chức năng vận động, cháu T. sẽ phải trải qua một quá trình kiên trì tập luyện phục hồi chức năng, đồng thời duy trì tư thế ngồi học, đi đứng đúng cách trong sinh hoạt hằng ngày.

Đừng để sự buông lỏng của cha mẹ làm cong vẹo tương lai của con

Cột sống của trẻ trong giai đoạn học sinh từ tiểu học đến trung học vẫn đang phát triển và hoàn thiện. Việc duy trì tư thế ngồi học sai như nằm bò ra bàn, gục cằm, vẹo sườn, bắt chéo chân trong thời gian dài… làm tăng áp lực lên cột sống, cơ và dây chằng. Nếu kéo dài, hệ cơ và dây chằng có thể thích nghi với tư thế sai, dẫn đến mất cân bằng cơ và rối loạn tư thế.

Chính vì vậy, “các bậc cha mẹ cần lựa chọn bàn ghế có chiều cao phù hợp với vóc dáng của trẻ theo từng độ tuổi. Bố trí góc học tập đủ ánh sáng và hướng dẫn trẻ ngồi đúng tư thế. Việc sử dụng các dụng cụ hỗ trợ tư thế chỉ nên thực hiện khi có chỉ định hoặc tư vấn từ bác sĩ, chuyên gia phục hồi chức năng. Điều đặc biệt quan trọng là cần nhắc nhở và giám sát trẻ khi ngồi học. Không nên để trẻ tự ý ngồi học theo thói quen thả lỏng. Khi thấy con có biểu hiện đi gù, vai lệch, cổ rụt, cần đưa đến các cơ sở y tế chuyên khoa phục hồi chức năng ngay lập tức, tránh để biến dạng cột sống trở nên cố định, khó phục hồi khi trẻ đã qua giai đoạn tăng trưởng”, bác sĩ Long khuyến cáo.

Bác sĩ Long cũng khuyến cáo, bên cạnh việc lựa chọn bàn ghế phù hợp và hướng dẫn trẻ ngồi đúng tư thế, phụ huynh cần giúp trẻ hình thành thói quen học tập, sinh hoạt khoa học. Không nên ngồi liên tục quá 30–45 phút mà cần đứng dậy đi lại, thay đổi tư thế hoặc thực hiện các động tác giãn cơ nhẹ trong vài phút để giảm áp lực lên cột sống. Khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động thể chất phù hợp với lứa tuổi, đặc biệt là các bài tập giúp tăng cường sức mạnh cơ lưng, cơ bụng và cải thiện tư thế. Ngoài ra, việc duy trì tư thế cúi đầu trong thời gian dài khi sử dụng máy tính, điện thoại có thể góp phần hình thành các rối loạn tư thế và làm tăng nguy cơ đau vùng cổ, vai, lưng.

NHỔ RĂNG KHÔN, CỤ BÀ 83 TUỔI SUÝT MẤT MẠNG VÌ SỐC NHIỄM KHUẨN

Chỉ sau vài ngày nhổ răng số 8 (răng khôn), một cụ bà 83 tuổi ở Hưng Yên đã rơi vào tình trạng sốc nhiễm khuẩn, hôn mê, áp xe hoại tử lan rộng vùng hàm mặt và vòm họng, phải trải qua nhiều cuộc phẫu thuật và hơn một tháng điều trị tích cực để giành lại sự sống. Các bác sĩ cảnh báo, với người cao tuổi có bệnh lý mạn tính như đái tháo đường, tăng huyết áp, bất kỳ thủ thuật xâm lấn nào cũng cần được đánh giá và theo dõi chặt chẽ.

Từ chiếc răng đau đến cơn sốc nhiễm khuẩn

Bà N.T.G (83 tuổi, Hưng Yên) có tiền sử tăng huyết áp và đái tháo đường nhiều năm nhưng dùng thuốc không thường xuyên. Khoảng hai tuần trước khi nhập viện, bà xuất hiện đau răng kèm đau đầu nên đến cơ sở y tế để nhổ răng số 8. Ba ngày sau, vùng má trái bắt đầu sưng đau dữ dội và ngày càng lan rộng. Mặc dù đã được chuyển đến bệnh viện tuyến trên để trích rạch ổ viêm và điều trị kháng sinh trong 5 ngày, tình trạng vẫn không cải thiện.

Người bệnh dần rơi vào trạng thái lơ mơ, sốt cao. Khi chuyển đến bệnh viện tuyến tỉnh, bà đã bị sốc nhiễm khuẩn, viêm tấy lan tỏa vùng hàm mặt, hôn mê, tụt huyết áp, phải đặt nội khí quản cấp cứu trước khi chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Bác sĩ Nguyễn Thị Huân, Trung tâm Hồi sức tích cực cho biết, người bệnh nhập viện trong tình trạng đặc biệt nguy kịch: sốt 40°C, phù toàn thân, môi khô, hôn mê. Vùng má trái có ổ áp xe kích thước khoảng 5 x 10 cm, hoại tử, chảy nhiều dịch mủ có mùi hôi.

Các xét nghiệm cho thấy tình trạng nhiễm trùng rất nặng với CRP tăng tới 203 mg/L, albumin giảm sâu còn 23 g/L, tiểu cầu chỉ còn 14 G/L. Cấy máu, cấy dịch mủ phát hiện vi khuẩn Streptococcus constellatus – loại vi khuẩn thường cư trú trong khoang miệng và đường hô hấp trên. Hình ảnh CT vùng hàm ghi nhận ổ áp xe lan rộng vào vòm họng, tuyến mang tai và các khoang phần mềm vùng mặt, kèm nhiều ổ khí, trong khi CT phổi cũng cho thấy nhiều ổ áp xe.

Người bệnh được chẩn đoán viêm mô bào, áp xe hoại tử vùng má trái lan rộng vào vòm họng, nhiễm khuẩn huyết do Streptococcus constellatus, biến chứng suy đa tạng và nghi ngờ viêm màng não. Đây là tình trạng cấp cứu rất nặng, đe dọa trực tiếp tính mạng người bệnh. Người bệnh được điều trị bằng kháng sinh phổ rộng liều cao, hỗ trợ hô hấp, truyền tiểu cầu, bù albumin và hồi sức tích cực.

 Ê-kíp điều trị lập tức hội chẩn liên chuyên khoa để đánh giá khả năng phẫu thuật cấp cứu cắt lọc các tổ chức hoại tử vùng mặt. Tuy nhiên, do người bệnh đang trong tình trạng sốc nhiễm khuẩn nặng, chưa đủ điều kiện để phẫu thuật triệt để nên trước mắt chỉ có thể chích rạch dẫn lưu và cắt lọc bước đầu các mô hoại tử nhằm hạn chế hoại tử lan rộng, kiểm soát nguồn nhiễm trùng.

Hành trình dần hồi phục và những biến chứng dồn dập

Qua 9 ngày điều trị tích cực, người bệnh dần tỉnh táo, tình trạng sốt cải thiện và thoát sốc. Sau khi đánh giá toàn diện tình trạng người bệnh, ê-kíp quyết định tiến hành phẫu thuật cắt lọc các tổ chức hoại tử vùng mặt. Sau phẫu thuật, người bệnh được chăm sóc bằng hệ thống hút áp lực âm (VAC), giúp lượng dịch mủ giảm dần, kiểm soát nhiễm trùng hiệu quả và thúc đẩy quá trình liền thương. Tưởng chừng đã vượt qua giai đoạn nguy kịch, người bệnh lại tiếp tục đối mặt với biến chứng tràn khí màng phổi trái, nghi do vỡ áp xe phổi, khiến quá trình điều trị kéo dài và đòi hỏi sự theo dõi sát của ê-kíp điều trị.

Qua trường hợp trên, các bác sĩ khuyến cáo người mắc các bệnh mạn tính, đặc biệt là đái tháo đường, nếu không được kiểm soát tốt sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, khiến vết thương chậm lành và tăng nguy cơ xảy ra các biến chứng nghiêm trọng. Ở người cao tuổi có nhiều bệnh nền, những tổn thương dù nhỏ trong khoang miệng cũng có thể trở thành “cửa ngõ” để vi khuẩn xâm nhập, gây nhiễm trùng lan rộng, thậm chí dẫn đến sốc nhiễm khuẩn đe dọa tính mạng.

Đối với người mắc bệnh mạn tính, đặc biệt là người cao tuổi, cần tuân thủ điều trị để kiểm soát tốt đường huyết và huyết áp trước khi thực hiện bất kỳ thủ thuật nào, kể cả nhổ răng. Người bệnh cũng cần thông báo đầy đủ tiền sử bệnh với bác sĩ để được đánh giá nguy cơ và lựa chọn phương án điều trị phù hợp.

Nếu sau nhổ răng xuất hiện các dấu hiệu như sưng đau tăng dần, sốt, chảy mủ, miệng có mùi hôi hoặc khó há miệng, cần đến ngay cơ sở y tế để được thăm khám. Việc tự điều trị tại nhà hoặc chậm trễ đi khám có thể khiến nhiễm trùng lan sâu vào các khoang vùng đầu, mặt, cổ, xâm nhập vào máu và gây nhiều biến chứng nguy hiểm.