Skip to main content
Liên hệ ngay với chúng tôi để được
tư vấn và đặt lịch khám sớm.
Email: bvnhietdoitw@nhtd.vnPhone: 0395.135.099
Đặt lịch khám
Hotline: 0395.135.099

Danh mục loại bệnh: Nhi khoa

BÉ TRAI 4 TUỔI SỐT CAO LIÊN TỤC, PHÁT HIỆN NHIỄM ADENOVIRUS: BÁC SĨ CẢNH BÁO DẤU HIỆU BỆNH NẶNG

Sốt cao 39–400C kéo dài nhiều ngày là biểu hiện có thể gặp ở trẻ nhiễm Adenovirus. Phần lớn trẻ có thể hồi phục với điều trị hỗ trợ, nhưng một số trường hợp có thể xuất hiện biến chứng nguy hiểm như  viêm phổi, suy hô hấp, đặc biệt ở trẻ nhỏ hoặc trẻ có yếu tố nguy cơ.

Mới đây, Khoa Nhi, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương tiếp nhận bệnh nhi N.P.L, 48 tháng tuổi ở Ninh Bình, nhập viện sau 2 ngày sốt cao liên tục. Theo gia đình, trẻ đột ngột sốt cao, có thời điểm lên tới 40 độ C. Dù được sử dụng thuốc hạ sốt paracetamol, cứ sau chưa đến 4 giờ trẻ đã sốt cao trở lại, kèm sưng đau họng, ăn uống rất kém, nôn 2 lần và ho ít.

Kết quả xét nghiệm cho thấy trẻ dương tính với Adenovirus. Khi thăm khám, trẻ sốt cao, mệt nhiều, họng đỏ, hai amidan sưng to, xuất hiện giả mạc hai bên. Tình trạng đau họng khiến trẻ ăn uống rất kém. Bệnh nhi được chẩn đoán nhiễm Adenovirus, biểu hiện chủ yếu ở đường hô hấp trên.

Theo BS Nguyễn Thành Lê, Phó Trưởng Khoa Nhi, Adenovirus có thể gây sốt cao 39–400C và sốt kéo dài nhiều ngày hơn so với các virus khác. Ở một số trẻ, có thể biến chứng viêm đường hô hấp dưới gây viêm phế quản phổi với các biểu hiện như ho tăng dần, thở nhanh, khó thở, co kéo lồng ngực, giảm oxy máu, thậm chí viêm phổi nặng và suy hô hấp. Sốt cao kéo dài, ăn uống kém hoặc nôn có thể khiến trẻ mất nước, mệt nhiều. Ở trẻ nhỏ, sốt cao cũng có thể làm tăng nguy cơ co giật do sốt.

“May mắn, bệnh nhi được gia đình đưa đến bệnh viện tương đối sớm, khi bệnh mới ở ngày thứ 2. Mặc dù trẻ sốt cao liên tục, có thời điểm lên tới 40 độ C, nhưng tại thời điểm thăm khám, các xét nghiệm chưa ghi nhận dấu hiệu tổn thương nặng. CRP chỉ tăng nhẹ, X-quang chưa phát hiện tổn thương tại phổi. Chúng tôi tập trung điều trị hạ sốt, bù dịch, chăm sóc hỗ trợ và theo dõi sát diễn biến, đặc biệt các dấu hiệu gợi ý bệnh tiến triển xuống đường hô hấp dưới”, BS Lê cho biết.

Sau 5 ngày điều trị, trẻ bắt đầu hết sốt. Tình trạng sưng đau họng, amidan cải thiện, trẻ ăn uống tốt dần. Sau hai ngày liên tiếp không còn sốt, đến ngày thứ 7, sức khỏe ổn định và trẻ được xuất viện.

BS Lê lưu ý, không nên chỉ dựa vào mức độ sốt để đánh giá bệnh nặng hay nhẹ. Trẻ sốt 39–400C nhưng vẫn tỉnh táo, uống được, không khó thở sẽ khác với trẻ li bì, bỏ ăn uống, thở nhanh, co kéo lồng ngực hoặc giảm oxy máu. Vì vậy, bên cạnh theo dõi nhiệt độ, cha mẹ cần chú ý đến toàn trạng, khả năng ăn uống và đặc biệt là tình trạng hô hấp của trẻ. Adenovirus có khả năng lây truyền qua dịch tiết đường hô hấp, tiếp xúc trực tiếp, bàn tay, đồ dùng và bề mặt nhiễm virus. Rửa tay thường xuyên, vệ sinh đồ dùng và hạn chế dùng chung vật dụng cá nhân là những biện pháp giúp hạn chế lây nhiễm.

Khi trẻ mắc Adenovirus, cha mẹ cần cho trẻ nghỉ ngơi, uống đủ nước, theo dõi nhiệt độ và sử dụng thuốc hạ sốt đúng liều theo hướng dẫn. Không tự ý sử dụng kháng sinh hoặc phối hợp nhiều loại thuốc khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Nếu trẻ sốt cao liên tục khó kiểm soát, li bì hoặc khó đánh thức, mệt nhiều, bỏ ăn uống hoặc không uống được, nôn nhiều, tiểu ít, cha mẹ cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để được thăm khám.

Đặc biệt, khi trẻ có các dấu hiệu như thở nhanh, khó thở, co kéo lồng ngực, tím tái, co giật hoặc xuất hiện các biểu hiện bất thường, cần đưa trẻ đi khám ngay để được đánh giá và xử trí kịp thời.

Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội

NHỜ CAN THIỆP KỊP THỜI, BÉ GÁI 27 THÁNG TUỔI THOÁT NGUY KỊCH SAU CÚ NGÃ ĐẬP ĐẦU XUỐNG NỀN NHÀ

Một cú trượt ngã tưởng chừng đơn giản trong lúc vui chơi đã khiến bé gái 27 tháng tuổi bị tụ máu ngoài màng cứng. Ban đầu, trẻ vẫn tỉnh táo và được cho về nhà theo dõi. Tuy nhiên, sau đó trẻ xuất hiện quấy khóc, chán ăn, ngủ li bì, buồn nôn và nôn nhiều lần. Khi được đưa đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, tình trạng tổn thương diễn biến phức tạp: khối máu tụ ngoài màng cứng vùng chẩm trái, kèm vỡ xương chẩm trái, phù não và máu tụ ngoài màng cứng vùng hố sau bên trái.

 Cháu V.N.M.C. (27 tháng tuổi, ở Phú Thọ) bị trượt ngã, đập đầu xuống nền nhà cứng trong lúc nô đùa. Sau cú ngã, cháu vẫn tỉnh nhưng xuất hiện sưng nề vùng chẩm (sau đầu). Gia đình đưa cháu đến bệnh viện địa phương kiểm tra. Kết quả chụp CT sọ não phát hiện khối máu tụ ngoài màng cứng vùng chẩm trái. Cháu xuất hiện những cơn đau đầu rải rác.

Sau một ngày nằm viện tại bệnh viện địa phương, tình trạng của cháu tạm ổn định và được cho về nhà tiếp tục theo dõi. Tuy nhiên, khi về nhà, trẻ bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu bất thường rõ rệt như quấy khóc nhiều, chán ăn, ngủ li bì, buồn nôn và nôn nhiều lần. Nhận thấy tình trạng của con diễn biến xấu, gia đình lập tức đưa cháu đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

BSCKII Tạ Việt Phương, Khoa Chấn thương sọ não, người trực tiếp tiếp nhận và phẫu thuật cho bệnh nhi, cho biết khi nhập viện, cháu C. trong tình trạng tỉnh chậm, điểm Glasgow 14 điểm, vùng chẩm sưng nề, kèm chán ăn, ngủ li bì, buồn nôn, nôn nhiều và đau đầu từng cơn.

Ngay lập tức, các bác sĩ chỉ định chụp CT sọ não cấp cứu để đánh giá mức độ tổn thương và tình trạng khối máu tụ. Kết quả cho thấy khối máu tụ ngoài màng cứng vùng chẩm trái có kích thước 3,8 cm x 4,2 cm, độ dày khối máu tụ là 2,5 cm kèm phù não xung quanh, vỡ xương chẩm trái và máu tụ ngoài màng cứng vùng hố sau bên trái.

Trước tình trạng tổn thương tiến triển và nguy cơ diễn biến nặng, các bác sĩ quyết định phẫu thuật cấp cứu lấy khối máu tụ ngoài màng cứng hố sau bên trái. Ca phẫu thuật được tiến hành khẩn trương, sau đó bệnh nhi tiếp tục được theo dõi và điều trị tích cực.

Nhờ được can thiệp kịp thời, 3 ngày sau phẫu thuật, sức khỏe cháu C. hồi phục tốt. Bệnh nhi tự thở, ăn ngủ được; các chức năng vận động và nhận thức trở lại bình thường.

Từ trường hợp của bệnh nhi, BSCKII Tạ Việt Phương khuyến cáo các bậc phụ huynh không nên chủ quan trước những tai nạn tưởng chừng nhẹ trong sinh hoạt hằng ngày. Những tình huống như ngã đập đầu xuống nền cứng, va đập khi vui chơi, tai nạn trong bơi lội… đều có thể gây chấn thương sọ não với mức độ khác nhau. Một số tổn thương có thể chưa biểu hiện rõ ngay sau tai nạn nhưng vẫn tiếp tục tiến triển và gây biến chứng nghiêm trọng nếu không được phát hiện, xử trí kịp thời.

Sau khi trẻ bị va đập vùng đầu, cha mẹ cần theo dõi sát tình trạng của trẻ, đặc biệt lưu ý các dấu hiệu như đau đầu kéo dài hoặc đau đầu từng cơn; buồn nôn, nôn nhiều lần; ngủ li bì, khó đánh thức; tỉnh chậm; quấy khóc bất thường; chán ăn hoặc có thay đổi hành vi, ý thức đột ngột.

Khi trẻ xuất hiện những dấu hiệu bất thường sau chấn thương vùng đầu, gia đình cần nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế để được thăm khám, đánh giá và xử trí kịp thời. Không nên chủ quan hoặc tự theo dõi kéo dài tại nhà khi trẻ có các biểu hiện bất thường sau chấn thương.

                                                                                                                                                      Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

VIÊM NÃO NHẬT BẢN: TỪ SỐT, ĐAU ĐẦU ĐẾN HÔN MÊ CHỈ TRONG VÀI NGÀY

Khởi đầu chỉ với sốt và đau đầu tưởng chừng thông thường, viêm não Nhật Bản có thể diễn tiến nhanh, gây rối loạn ý thức, co giật, hôn mê, yếu liệt một phần hay toàn bộ cơ thể, thậm chí đe dọa tính mạng và để lại di chứng thần kinh lâu dài. Khi bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, việc phòng bệnh bằng vaccine và nhận biết sớm các dấu hiệu cảnh báo có vai trò đặc biệt quan trọng.

Chỉ sốt và đau đầu: Bệnh nhi rơi vào hôn mê chỉ sau 2 ngày

Khoa Nhi, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương tiếp nhận điều trị nhiều bệnh nhi mắc viêm não Nhật Bản, trong đó có những trường hợp nhập viện khi bệnh đã diễn biến nặng. Điển hình là một bệnh nhi khởi phát chỉ với sốt, đau đầu nhưng nhanh chóng chuyển nặng, phải hồi sức tích cực và thở máy.

Theo gia đình, cháu G.A.D (9 tuổi ở Lào Cai) ban đầu  xuất hiện sốt và đau đầu. Sau một ngày sử dụng thuốc hạ sốt nhưng tình trạng không cải thiện vẫn sốt cao liên tục. đau đầu tăng kèm theo nôn và buồn nôn, gia đình đưa trẻ đến bệnh viện tuyến huyện thăm khám và điều trị. Tuy nhiên, chỉ một ngày sau, ý thức trẻ chậm chạp dần, không nói được, không ăn uống và dần đi vào hôn mê nên được các bác sỹ chuyển lên bệnh viện tuyến tỉnh. Tại đây, trẻ được chẩn đoán viêm não và tiếp tục được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Tại BV Nhiệt đới TƯ trẻ được chẩn đoán viêm não nhật bản, tại thời điểm nhập viện trẻ đã trong tình trạng hôn mê, suy hô hấp và yếu liệt tứ chi. Trẻ đã được hồi sức tích cực, chống viêm, chống phù não và được đặt ống thở máy để hỗ trợ hô hấp.  “Lúc bác sĩ thông báo tình trạng của con rất nặng, gia đình vô cùng lo lắng. Chúng tôi đặc biệt sợ vì biết bệnh có thể đe dọa tính mạng và để lại di chứng”, bố bệnh nhi chia sẻ.

BSNT Lê Thị Thu Hiền, Khoa Nhi, cho biết bệnh nhi đã điều trị tại bệnh viện khoảng 2 tuần. Thời điểm nhập viện, trẻ trong tình trạng rất nặng, hôn mê, phải đặt ống nội khí quản và thở máy. Các bác sĩ tiến hành hồi sức tích cực, hỗ trợ hô hấp, sử dụng thuốc chống viêm, chống phù não và theo dõi sát các biến chứng thần kinh.

Sau hai tuần điều trị, ý thức của trẻ đã cải thiện rõ rệt. Bệnh nhi tỉnh táo hơn, có thể tự thở và đã cai máy thở thành công.

Tuy nhiên, theo bác sĩ, đây vẫn chưa phải thời điểm có thể chủ quan. Cơ lực toàn thân của trẻ còn yếu và cần tiếp tục được theo dõi sát nguy cơ xuất hiện các biến chứng, di chứng thần kinh như động kinh. Khả năng ho, khạc của trẻ vẫn còn kém, do đó vẫn có nguy cơ suy hô hấp, thậm chí phải đặt lại ống nội khí quản và hỗ trợ thở máy nếu tình trạng hô hấp không đảm bảo.

Dễ nhầm với bệnh nhiễm virus thông thường

Theo các bác sĩ, viêm não Nhật Bản là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây ra, ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thần kinh trung ương. Bệnh lây truyền sang người qua muỗi mang virus. Tại Việt Nam, bệnh thường gia tăng vào mùa hè, khi thời tiết nóng ẩm tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi phát triển. Đây cũng là thời điểm người dân cần đặc biệt lưu ý các bệnh viêm não do virus.

Điều đáng lo ngại là những biểu hiện ban đầu của viêm não Nhật Bản thường không đặc hiệu. Trẻ có thể chỉ sốt cao đột ngột, đau đầu, mệt mỏi, ăn uống kém – những triệu chứng dễ khiến gia đình nhầm với các bệnh nhiễm virus thông thường. TS.BS Đặng Thị Thúy – Trưởng Khoa Nhi cho biết, ở trẻ lớn đau đầu là triệu chứng trẻ có thể mô tả được, trong khi đó trẻ nhỏ không nói được thường chỉ biểu hiện bằng quấy khóc một cách bất thường, ăn uống kém. Tùy diễn biến từng thể bệnh, sau vài giờ đến vài ngày biểu hiện bệnh rõ hơn, trẻ đau đầu tăng, nôn nhiều hoặc nôn tăng kèm theo thay đổi về ý thức hoặc hành vi như co giật, ngủ li bì khó đánh thức, nặng hơn là lờ đờ, hôn mê. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời trẻ nhanh chóng chuyển nặng như suy hô hấp, suy tuần hoàn và đe dọa tới tính mạng.

Chưa có thuốc điều trị đặc hiệu: Phòng bệnh là yếu tố then chốt

TS.BS Đặng Thị Thúy nhấn mạnh, hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với viêm não Nhật Bản. Khi bệnh xảy ra, biện pháp can thiệp chủ yếu là điều trị hỗ trợ và hồi sức, tích cực chống phù não, phòng co giật, hỗ trợ hô hấp, phát hiện và xử trí sớm các biến chứng nhằm giúp người bệnh vượt qua giai đoạn nguy hiểm, hạn chế các biến chứng.

Ngay cả khi được cứu sống, khoảng 50% số trẻ vẫn phải đối mặt với các di chứng về tâm thần, vận động và hòa nhập xã hội, nên cần được theo dõi lâu dài cùng với phục hồi chức năng.

“Vì vậy, phòng bệnh có vai trò đặc biệt quan trọng. Cha mẹ cần đưa trẻ tiêm vaccine viêm não Nhật Bản đầy đủ, đúng lịch, đồng thời chủ động phòng muỗi đốt và vệ sinh môi trường, hạn chế các khu vực muỗi sinh sản”, TS.BS Đặng Thị Thúy khuyến cáo.

Cần lưu ý, khi trẻ có biểu hiện sốt, đau đầu, kèm theo các biểu hiện bất thường như quấy khóc bất thường, li bì, khó đánh thức, co giật, yếu hoặc liệt tay chân, gia đình cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để được thăm khám kịp thời.

Phát hiện sớm và điều trị tích cực có ý nghĩa quan trọng trong kiểm soát các biến chứng, hạn chế nguy cơ tổn thương thần kinh nặng và bảo vệ tính mạng của trẻ

                                                                                                                                   Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

CẮN GÃY THÌA NHỰA KHI ĂN SỮA CHUA, BÉ 20 THÁNG TUỔI PHẢI NỘI SOI CẤP CỨU

Một sơ suất nhỏ trong sinh hoạt suýt gây hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe của bé trai 20 tháng tuổi tại Hà Nội khi nuốt phải mảnh thìa nhựa gãy. Đây cũng là lời cảnh báo đối với các gia đình có con nhỏ trong giai đoạn ngứa răng, thích gặm các vật dụng xung quanh.

Chiều 04/8/2026, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương tiếp nhận bệnh nhi H.N.M. (20 tháng tuổi, Hà Nội) trong tình trạng cấp cứu sau khi nuốt phải dị vật.

Theo người nhà kể lại, khoảng 16 giờ cùng ngày, sau khi tự xúc ăn thìa đầu tiên của hũ sữa chua, bé M. do đang trong giai đoạn ngứa răng lợi nên cắn mạnh vào chiếc thìa nhựa đang cầm trên tay. Chiếc thìa bất ngờ gãy đôi và một nửa mảnh vỡ bị bé nuốt vào đường tiêu hóa. May mắn, dị vật không rơi vào đường thở nên trẻ không xuất hiện các dấu hiệu ho sặc hay khó thở. Ngay sau khi phát hiện sự việc, gia đình đã nhanh chóng đưa bé đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Tại Khoa Cấp cứu, trẻ tỉnh táo, môi hồng, tự thở tốt, phổi thông khí rõ, chưa có dấu hiệu suy hô hấp. Nhận định đây là dị vật có cạnh sắc, có nguy cơ gây tổn thương đường tiêu hóa, thậm chí thủng hoặc tắc ruột nếu không được lấy ra kịp thời, các bác sĩ đã chỉ định gây mê và tiến hành nội soi lấy dị vật.

BSCKI Lê Thu Trang cho biết: “Dị vật sắc nhọn khi đi qua đường tiêu hóa có thể gây xây xước, chảy máu, thậm chí thủng thực quản hoặc dạ dày. Vì vậy, chúng tôi quyết định nội soi lấy dị vật càng sớm càng tốt để hạn chế nguy cơ biến chứng.”

Bác sĩ Nguyễn Tất Đạt, Trung tâm Nội soi tiêu hóa và Thăm dò chức năng chia sẻ: “qua nội soi, chúng tôi ghi nhận niêm mạc thực quản của bệnh nhi đã bị viêm trợt do mảnh thìa cọ xát trong quá trình di chuyển xuống dạ dày. Tại dạ dày, các bác sĩ phát hiện 1/2 thìa nhựa kích thước khoảng 2,5 cm x 2 cm nằm trong lòng dạ dày. Rất may, thời điểm này dạ dày không còn nhiều thức ăn nên việc xác định vị trí và tiếp cận dị vật diễn ra thuận lợi”.

Bằng kỹ thuật nội soi cùng sự phối hợp nhịp nhàng của ê-kíp, mảnh thìa nhựa đã được lấy ra an toàn, giúp bệnh nhi tránh nguy cơ thủng dạ dày, xuất huyết tiêu hóa và nhiều biến chứng nguy hiểm khác.

Qua trường hợp trên, BSCKI Lê Thu Trang khuyến cáo phụ huynh có con nhỏ, đặc biệt trẻ từ 1–3 tuổi – giai đoạn thường xuyên đưa đồ vật vào miệng để gặm, cắn – cần lựa chọn các dụng cụ ăn uống làm từ chất liệu an toàn, bền, khó gãy như silicone chuyên dụng dành cho trẻ em, hạn chế sử dụng các loại thìa nhựa cứng, giòn, dễ gãy vỡ.

Cha mẹ cần luôn theo dõi khi trẻ tự ăn, vui chơi hoặc cầm nắm các vật dụng nhỏ. Nếu trẻ có biểu hiện ho sặc, tím tái, khó thở hoặc nghi ngờ nuốt phải dị vật, cần thực hiện sơ cứu đúng cách (vỗ lưng, ấn ngực hoặc thủ thuật Heimlich phù hợp với lứa tuổi) và nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời.

Đặc biệt, phụ huynh tuyệt đối không tự ý móc họng hoặc áp dụng các mẹo dân gian như cho trẻ uống nhiều nước, nuốt cơm hay thức ăn to với hy vọng đẩy dị vật xuống, bởi những cách làm này có thể khiến dị vật di chuyển sâu hơn, gây tổn thương nặng nề cho đường tiêu hóa hoặc đường thở.

                                                                                                                                    Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

HẾT SỐT KHÔNG PHẢI HẾT BỆNH: CHUYÊN GIA BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TW CẢNH BÁO SAI LẦM NGUY HIỂM KHI ĐIỀU TRỊ SỐT XUẤT HUYẾT

Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm lưu hành quanh năm nhưng thường gia tăng trong mùa mưa. Để giúp người dân chủ động bảo vệ sức khỏe và tiếp cận đúng các biện pháp dự phòng hiện nay, BSCKII Nguyễn Thanh Bình – Phó Trưởng khoa Vi rút – Ký sinh trùng, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương đã đưa ra những khuyến cáo quan trọng.

Thay đổi diện mạo dịch tễ: Không còn thuần túy theo mùa

Theo BSCKII Nguyễn Thanh Bình, dưới tác động của biến đổi khí hậu và quá trình đô thị hóa, dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết Dengue hiện nay đã có nhiều thay đổi. Bệnh không còn hoàn toàn tuân theo tính mùa vụ như trước đây mà có thể xuất hiện rải rác quanh năm. Bệnh do virus Dengue gây ra, lây truyền qua muỗi vằn Aedes và có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Phần lớn các trường hợp diễn biến nhẹ, tuy nhiên một số bệnh nhân có thể chuyển nặng với các biến chứng nguy hiểm như thoát huyết tương dẫn đến sốc, xuất huyết nặng, suy đa cơ quan, thậm chí tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.

Giai đoạn nguy hiểm: “Hết sốt không phải là hết bệnh”

Bác sĩ đặc biệt lưu ý giai đoạn nguy hiểm nhất của bệnh thường xuất hiện khi người bệnh bắt đầu giảm sốt hoặc vừa hết sốt, thường vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 của bệnh. Đây là thời điểm hiện tượng thoát huyết tương và giảm tiểu cầu diễn ra mạnh nhất, làm tăng nguy cơ sốc và xuất huyết. “Nhiều người nghĩ rằng hết sốt là sắp khỏi bệnh. Thực tế, đây lại là giai đoạn chúng tôi lo ngại nhất vì nguy cơ sốc và xuất huyết thường xuất hiện vào thời điểm này”, BSCKII Nguyễn Thanh Bình cho biết.

Người bệnh cần đến cơ sở y tế ngay khi xuất hiện các dấu hiệu cảnh báo như đau bụng nhiều, nôn liên tục, mệt lả, lừ đừ, chảy máu chân răng, chảy máu mũi, nôn ra máu, đi ngoài phân đen, tiểu ít hoặc khó thở. Đối với phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ, người cao tuổi và người có bệnh nền mạn tính, việc theo dõi y tế càng cần được thực hiện chặt chẽ hơn, khuyến cáo phụ nữ mang thai, trẻ nhũ nhi (1 tháng đến 12 tháng), người cao tuổi (> 60 tuổi), người có bệnh lý mạn tính như: suy tim, suy thận, xơ gan, bệnh máu, bệnh tim mạch, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính,… nên nhập viện theo dõi khi phát hiện sốt xuất huyết Dengue.

Hai sai lầm phổ biến dễ dẫn đến nguy kịch

Là bệnh viện thường xuyên tiếp nhận các ca sốt xuất huyết Dengue nặng, BSCKII Nguyễn Thanh Bình cảnh báo hai sai lầm phổ biến. Thứ nhất là tự ý truyền dịch tại nhà. Việc truyền dịch trong sốt xuất huyết phải được chỉ định dựa trên đánh giá lâm sàng và xét nghiệm. Truyền dịch không đúng có thể gây quá tải tuần hoàn, phù phổi cấp hoặc suy tim cấp. Truyền dịch không đủ, không đúng chỉ định, có thể không giải quyết được tình trạng thoát huyết tương, làm cho cô đặc máu trầm trọng hơn.

Thứ hai là sử dụng các thuốc hạ sốt, giảm đau không phù hợp như Aspirin hoặc Ibuprofen. Các thuốc này có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết. Người bệnh chỉ nên sử dụng Paracetamol đơn chất theo đúng hướng dẫn của nhân viên y tế.

Bên cạnh việc phát hiện sớm và điều trị đúng cách, các biện pháp dự phòng chủ động đang ngày càng được quan tâm nhằm giảm nguy cơ mắc bệnh và hạn chế các trường hợp diễn biến nặng.

Công cụ dự phòng mới: Vắc-xin nâng cao hiệu quả bảo vệ

Về dự phòng, bên cạnh các biện pháp truyền thống như loại bỏ nơi sinh sản của muỗi, đậy kín dụng cụ chứa nước, phát quang bụi rậm, ngủ màn và phòng chống muỗi đốt, hiện nay Việt Nam đã có thêm công cụ phòng bệnh chủ động là vắc xin sốt xuất huyết.

BSCKII Nguyễn Thanh Bình cho biết vắc xin sốt xuất huyết hiện nay là vắc xin tứ giá, có khả năng tạo đáp ứng miễn dịch đối với cả 4 tuýp virus Dengue. Vắc xin được chỉ định cho trẻ từ 4 tuổi trở lên và người lớn theo hướng dẫn chuyên môn hiện hành.

Nhiều người cho rằng đã từng mắc sốt xuất huyết thì không cần tiêm vắc xin. Tuy nhiên, virus Dengue có 4 tuýp huyết thanh khác nhau và một người có thể mắc bệnh nhiều lần trong đời, việc mắc sốt xuất huyết Dengue lần thứ 2 có thể làm bệnh nặng hơn do thuyết phụ thuộc kháng thể. Việc tiêm vắc xin giúp giảm nguy cơ mắc bệnh, giảm nguy cơ nhập viện và giảm nguy cơ diễn biến nặng.

“Vắc xin là công cụ dự phòng chủ động hiệu quả, nhưng không thể thay thế hoàn toàn các biện pháp phòng chống muỗi truyền bệnh. Việc kết hợp tiêm chủng với giữ gìn vệ sinh môi trường, diệt lăng quăng và phòng chống muỗi đốt mới là giải pháp toàn diện nhất”, BSCKII Nguyễn Thanh Bình nhấn mạnh.

Sốt xuất huyết là bệnh có thể phòng ngừa và kiểm soát nếu được phát hiện sớm. Khi có biểu hiện sốt cao đột ngột, đặc biệt trong mùa hè và mùa mưa (mùa phát triển của muỗi vằn truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue), người dân cần đến cơ sở y tế để được thăm khám, xét nghiệm và theo dõi kịp thời, tránh tự điều trị tại nhà dẫn đến những hậu quả đáng tiếc.

                                                                                                                                                             Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

HO NHIỀU VỀ ĐÊM, KHÒ KHÈ SUỐT NHIỀU NĂM, BÉ TRAI 10 TUỔI MỚI PHÁT HIỆN MẮC HEN PHẾ QUẢN

Suốt nhiều năm, gia đình bé N.N.P (10 tuổi, Hà Nội) đã quen với những đợt ho kéo dài mỗi khi thời tiết thay đổi hoặc sau những buổi đá bóng cùng bạn bè. Mỗi lần như vậy, em lại được đưa đi khám vì khò khè, thở rít, nhiều lần phải nhập viện điều trị các bệnh lý hô hấp.

Điều khiến gia đình không ngờ là phía sau những triệu chứng tưởng chừng quen thuộc ấy lại là bệnh hen phế quản kéo dài nhiều năm nhưng chưa được phát hiện.

Theo người nhà, từ nhỏ P đã có tiền sử viêm mũi dị ứng và thường xuyên mắc các đợt nhiễm trùng đường hô hấp. Mỗi lần xuất hiện triệu chứng, trẻ thường được chẩn đoán viêm tiểu phế quản hoặc các bệnh lý hô hấp cấp tính. Sau khoảng 10–14 ngày điều trị, tình trạng cải thiện rồi lại tái phát.

Ba ngày trước khi nhập viện, trẻ xuất hiện các cơn ho nhiều kéo dài, khò khè, thở rít, có đờm, chảy mũi và ăn uống kém. Dù đã được khí dung như những lần trước nhưng triệu chứng không thuyên giảm nên gia đình đưa trẻ đến Khoa Nhi, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

TS.BS Nguyễn Mạnh Trường cho biết, thời điểm nhập viện, trẻ tỉnh táo, chưa có dấu hiệu suy hô hấp nặng. Tuy nhiên, khi thăm khám phổi, các bác sĩ ghi nhận nhiều tiếng ran rít, ran ngáy và khò khè rõ. Đặc biệt, việc khai thác tiền sử, bệnh sử cho thấy trẻ thường xuyên ho về đêm, gần sáng và xuất hiện thở rít sau vận động – những dấu hiệu gợi ý hen phế quản.

Nghi ngờ trẻ mắc hen phế quản, các bác sĩ chỉ định đo chức năng hô hấp. Kết quả cho thấy dung tích sống của trẻ chỉ đạt 58,4% so với mức bình thường. Chỉ số FEV1 – thông số phản ánh mức độ tắc nghẽn đường thở – chỉ đạt 47%, thấp hơn nhiều so với ngưỡng bình thường trên 70%. Sau nghiệm pháp hồi phục phế quản, kết quả dương tính rõ rệt, qua đó xác định trẻ mắc hen phế quản kèm rối loạn thông khí tắc nghẽn mức độ nặng.

Theo TS.BS Nguyễn Mạnh Trường, đây là tình huống không hiếm gặp trong thực tế. Nhiều trẻ bị hen phế quản nhưng biểu hiện ban đầu không điển hình nên dễ bị nhầm với các đợt viêm phế quản hoặc viêm tiểu phế quản tái phát. “Không phải tất cả những trường hợp ho tái diễn đều là viêm nhiễm hô hấp đơn thuần. Khi trẻ ho nhiều về đêm hoặc gần sáng, khò khè tái diễn, thở rít sau vận động hoặc đáp ứng với thuốc giãn phế quản, phụ huynh cần đưa trẻ đến cơ sở chuyên khoa để được đánh giá và đo chức năng hô hấp”, bác sĩ Trường nhấn mạnh.

Qua trường hợp này, các chuyên gia cho biết, đo chức năng hô hấp là một trong những xét nghiệm quan trọng giúp chẩn đoán hen phế quản. Việc phát hiện sớm không chỉ giúp người bệnh được điều trị đúng hướng mà còn hạn chế nguy cơ xuất hiện các cơn hen cấp nguy hiểm.

Hen phế quản là bệnh lý mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc biệt ở những trẻ có cơ địa dị ứng như viêm mũi dị ứng, chàm hoặc có người thân mắc các bệnh dị ứng. Khác với các bệnh nhiễm trùng hô hấp chỉ điều trị theo từng đợt, hen phế quản cần được theo dõi và kiểm soát lâu dài bằng thuốc dự phòng.

Theo TS.BS Nguyễn Mạnh Trường, những trẻ nhiều lần được chẩn đoán viêm phế quản tái phát, thường xuyên phải sử dụng thuốc giãn phế quản hoặc có cơ địa dị ứng cần được thăm khám chuyên khoa để phát hiện sớm hen phế quản. Chẩn đoán đúng và điều trị dự phòng đầy đủ sẽ giúp kiểm soát bệnh hiệu quả, giảm các đợt cấp và hạn chế nguy cơ nhập viện.

                                                                                                                                                  Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

5 CÂU HỎI NGƯỜI DÂN QUAN TÂM VỀ VIRUS HANTA

👱‍♂️⁉️👨🏻‍⚕️Gần đây, những thông tin liên quan đến virus Hanta xuất hiện trên mạng xã hội đã thu hút sự quan tâm của nhiều người dân. Virus Hanta là gì? Bệnh lây truyền như thế nào? Có nguy cơ bùng phát thành dịch lớn hay không? Để giúp cộng đồng hiểu đúng về căn bệnh này, TS. BS Ngô Thanh Hà – Phó Trưởng khoa Vi rút, Ký sinh trùng giải đáp những câu hỏi được quan tâm nhiều nhất.


✍️📑 Câu hỏi 1: Thưa bác sĩ, gần đây tôi thấy trên mạng xã hội xuất hiện thông tin về virus Hanta với những trường hợp tử vong khiến nhiều người lo lắng. Đây là bệnh gì và hiện nay Việt Nam đã ghi nhận ca bệnh nào chưa?
👨🏻‍⚕️🎙️ BS. Hà: Chào bạn, trước hết tôi muốn chia sẻ để người dân rõ rằng virus Hanta không phải là một loại virus mới xuất hiện. Đây là một nhóm virus có nguồn chứa tự nhiên ở các loài gặm nhấm, đặc biệt là chuột. Khi con người tiếp xúc với nước tiểu, phân hoặc nước bọt của động vật mang virus thì nguy cơ nhiễm bệnh mới có thể xảy ra.
Tại Việt Nam, từ nhiều năm trước, chúng ta đã từng ghi nhận một số ca bệnh rải rác do virus Hanta gây ra, chủ yếu liên quan đến những người thường xuyên tiếp xúc với chuột hoặc chất thải của chuột. Trên thế giới, virus Hanta có thể gây ra các bệnh cảnh nặng như hội chứng phổi do Hantavirus hoặc sốt xuất huyết kèm hội chứng thận. Đây đều là những bệnh lý rất nghiêm trọng, có thể đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Tuy nhiên, người dân không nên quá lo lắng. Hiện nay số ca bệnh do virus Hanta tại Việt Nam cũng như trên thế giới không nhiều như các bệnh truyền nhiễm phổ biến khác, bệnh chỉ xuất hiện đơn lẻ chứ không bùng thành dịch lớn. Điều quan trọng là chúng ta cần hiểu đúng về bệnh để chủ động phòng ngừa thay vì hoang mang trước các thông tin lan truyền thiếu chính xác trên mạng xã hội
✍️📑 Câu hỏi 2: Tôi nghe nói virus Hanta liên quan đến chuột. Vậy bệnh này lây sang người như thế nào? Nếu trong nhà có chuột hoặc vô tình tiếp xúc với phân, nước tiểu của chuột thì có nguy hiểm không?
👨🏻‍⚕️🎙️ BS. Hà: Đúng vậy, chuột và một số loài gặm nhấm chính là vật chủ mang virus Hanta trong tự nhiên. Điều đáng nói là chuột mang mầm bệnh nhưng bản thân chúng không bị đổ bệnh, còn con người khi tiếp xúc thì lại có nguy cơ bị lây nhiễm.
Con đường lây nhiễm phổ biến nhất là hít phải các hạt bụi hoặc khí dung chứa vi rút phát tán từ phân, nước tiểu hoặc nước bọt của chuột. Khi phân, nước tiểu hoặc nước bọt của chuột thải ra môi trường và khô đi, virus sẽ lẫn vào không khí dưới dạng bụi hoặc các hạt nước li ti. Khi chúng ta dọn dẹp, vô tình hít phải lớp bụi bẩn chứa virus này thì sẽ bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, nguy cơ cũng có thể xảy ra khi chúng ta chạm tay trực tiếp vào các bề mặt, vật dụng dính chất thải của chuột rồi đưa lên mắt, mũi, miệng, hoặc hy hữu hơn là bị chuột mang virus cắn.
Chính vì cơ chế lây truyền như vậy, những nơi tối tăm, ẩm thấp như nhà kho, chuồng trại, kho lương thực hoặc các khu vực lâu ngày không sử dụng có nhiều phân chuột là môi trường nguy cơ cao mà người dân cần đặc biệt lưu ý. Tuy nhiên, bạn cũng không nên quá hoảng sợ, việc phát hiện có chuột trong nhà không đồng nghĩa với việc chắc chắn sẽ mắc bệnh, nhưng nó là một dấu hiệu cảnh báo để chúng ta phải chủ động dọn dẹp và xử lý môi trường sống ngay lập tức.
✍️📑 Câu hỏi 3: Các triệu chứng của bệnh do virus Hanta có giống cảm cúm, sốt xuất huyết hay COVID-19 không? Người dân cần lưu ý những dấu hiệu nào để đi khám sớm?
👨🏻‍⚕️🎙️ BS. Hà: Giai đoạn đầu, bệnh do virus Hanta rất dễ nhầm lẫn với các bệnh nhiễm trùng thông thường như cúm, sốt xuất huyết hay COVID-19. Người bệnh thường xuất hiện các triệu chứng mơ hồ như sốt cao đột ngột, đau đầu, đau mỏi cơ bắp (đặc biệt là đau vùng lưng và đùi), kèm theo cảm giác mệt lả, buồn nôn hoặc đau bụng.
Tuy nhiên, điểm nguy hiểm là bệnh có thể chuyển biến rất nhanh sau vài ngày thành các thể bệnh nặng. Ở một số trường hợp, virus tấn công vào hệ hô hấp gây khó thở, ho khan, suy hô hấp tiến triển. Ở những trường hợp khác, bệnh lại diễn tiến nặng gây tổn thương thận với biểu hiện đau vùng thắt lưng, tiểu ít hoặc vô niệu. Đây đều là những biến chứng cực kỳ nghiêm trọng, có thể đe dọa tính mạng nếu không được điều trị tích cực tại bệnh viện.
Vì vậy, chìa khóa để người dân cảnh giác đi khám sớm không chỉ dựa vào triệu chứng, mà phải gắn liền với yếu tố tiếp xúc. Người dân không nên tự chẩn đoán bệnh chỉ dựa vào biểu hiện sốt thông thường. Nhưng nếu bản thân xuất hiện các triệu chứng sốt, mệt mỏi bất thường, và trước đó khoảng từ 1 đến 4 tuần từng có tiền sử tiếp xúc với chuột, phân chuột, hoặc làm việc, dọn dẹp tại các khu vực có nguy cơ cao như nhà kho, bếp cũ… thì cần đến ngay cơ sở y tế để được bác sĩ đánh giá, xét nghiệm và theo dõi kịp thời.
✍️📑 Câu hỏi 4: Virus Hanta có lây từ người sang người không? Nếu trong cộng đồng xuất hiện ca bệnh thì nguy cơ bùng phát thành dịch lớn có đáng lo ngại không?
👨🏻‍⚕️🎙️ BS. Hà: Người dân có thể hoàn toàn yên tâm ở điểm này: Ngoài chủng Andes lưu hành tại Nam Mỹ, các chủng virus Hanta trên thế giới hiện nay đều không lây truyền từ người sang người. Con đường lây nhiễm chủ yếu và trực tiếp nhất vẫn là từ động vật gặm nhấm, cụ thể là loài chuột sang người. Bệnh nhân nhiễm virus Hanta không có khả năng phát tán mầm bệnh qua không khí cho người xung quanh trong quá trình giao tiếp thông thường.
Chính vì cơ chế lây truyền giới hạn như vậy, nguy cơ virus Hanta bùng phát thành các đại dịch quy mô lớn, lây lan nhanh chóng như COVID-19, cúm hay sởi là rất thấp. Các biện pháp phòng chống dịch của ngành y tế cũng sẽ khác hoàn toàn với thời COVID-19, chủ yếu tập trung vào việc kiểm soát nguồn lây từ chuột và bảo đảm vệ sinh môi trường sống tại khu vực có ca bệnh.
Do đó, nếu có nghe thông tin về một ca bệnh đơn lẻ xuất hiện trong cộng đồng, người dân không nên quá lo lắng hay hốt hoảng. Điều quan trọng là cơ quan y tế và hệ thống y tế dự phòng sẽ ngay lập tức đánh giá nguy cơ, triển khai các biện pháp vệ sinh môi trường, kiểm soát nguồn lây từ chuột và giám sát dịch tễ phù hợp.
✍️📑 Câu hỏi 5: Để phòng ngừa virus Hanta, người dân cần làm gì trong cuộc sống hằng ngày, đặc biệt là những gia đình sinh sống ở khu vực có nhiều chuột hoặc thường xuyên tiếp xúc với kho chứa đồ, nhà kho, trang trại?
👨🏻‍⚕️🎙️ BS. Hà: Biện pháp phòng bệnh quan trọng nhất và triệt để nhất chính là hạn chế tối đa việc tiếp xúc với chuột và các chất thải của chúng. Để chủ động bảo vệ sức khỏe, tôi khuyên người dân nên thực hiện tốt các biện pháp cụ thể sau:
🦠 Thứ nhất là triệt tiêu nguồn sống và nơi ẩn nấp của chuột: Người dân nên giữ gìn vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, phát quang bụi rậm quanh nhà; thu gom rác thải sinh hoạt đúng cách và bảo quản thực phẩm, gạo, ngô, khoai sắn trong các thùng kín để không thu hút chuột đến kiếm ăn hay làm tổ.
🦠 Thứ hai là lưu ý đặc biệt về mẹo dọn dẹp an toàn: Khi dọn dẹp những khu vực tối tăm lâu ngày không sử dụng như nhà kho, gầm bếp, chuồng trại – nơi nghi ngờ có nhiều phân hoặc nước tiểu chuột – người dân tuyệt đối không quét khô bằng chổi. Việc quét chổi khô sẽ làm bụi chứa virus bay lên không khí khiến chúng ta hít phải. Thay vào đó, hãy đeo khẩu trang, đi găng tay cao su, rồi phun nước hoặc dung dịch sát khuẩn (như nước Javel 5% pha loãng 1/10) để làm ẩm khu vực đó trước, sau đó mới tiến hành lau dọn sạch sẽ bằng khăn ẩm hoặc chổi lau nhà.
🦠 Thứ ba là duy trì vệ sinh cá nhân: Hãy luôn rửa tay thật sạch bằng xà phòng và nước sạch ngay sau khi lao động, dọn dẹp hoặc tiếp xúc với các vật dụng nghi ngờ có chuột qua lại.
💯💯💯 Virus Hanta là bệnh hoàn toàn có thể phòng ngừa được. Hiểu đúng về bệnh, chủ động kiểm soát môi trường sống và thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh cá nhân chính là cách hiệu quả nhất để bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng.
𝙓𝙞𝙣 𝙘𝒂̉𝙢 𝒐̛𝙣 𝙗𝒂́𝙘 𝙨𝒊̃ 𝙫𝒐̛́𝙞 𝙣𝙝𝒖̛̃𝙣𝙜 𝙘𝙝𝙞𝙖 𝙨𝒆̉ !

NHIỄM LIÊN CẦU NHÓM B (GBS) Ở PHỤ NỮ MANG THAI

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Khoa Sản – Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Số điện thoại khoa: 0962.413.867.

Liên cầu khuẩn nhóm B (GBS) là một trong nhiều loại vi khuẩn thường trú ở cơ thể người, thường được tìm thấy ở âm đạo hoặc trực tràng của người phụ nữ.

Hầu hết phụ nữ mang thai bị nhiễm GBS không biểu hiện triệu chứng lâm sàng. GBS không gây nguy hiểm cho thai phụ, tuy nhiên nó làm gia tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu, vỡ màng ối, viêm nội mạc tử cung, nhiễm trùng vết mổ, thai chết lưu và sinh non.

1. Thai phụ cần được xét nghiệm GBS trước sinh

GBS được xem là tác nhân hàng đầu gây nhiễm trùng sơ sinh như viêm phổi, nhiễm trùng huyết, viêm màng não.

Mẹ nhiễm GBS có thể lây truyền cho trẻ sơ sinh trong quá trình chuyển dạ. Do đó, biết được tình trạng sản phụ có nhiễm GBS trước sinh hay không giúp bác sĩ đưa ra các quyết định điều trị nhằm làm giảm tỉ lệ lây nhiễm, đồng thời tăng cường theo dõi trẻ sau sinh để phát hiện sớm nhiễm trùng sơ sinh và điều trị kịp thời.

Trẻ sơ sinh nhiễm GBS được phân thành hai nhóm: khởi phát sớm 7 ngày đầu sau sinh và khởi phát muộn từ 7 ngày đến 90 ngày tuổi. Một tỉ lệ nhỏ trẻ nhiễm GBS có nguy cơ tử vong hoặc mắc phải các di chứng lâu dài.

2. Xét nghiệm GBS được thực hiện như thế nào

Thai phụ sẽ được đề nghị xét nghiệm GBS ở thời điểm thai 35 tuần đến 37 tuần 6 ngày (đối với đơn thai), 32-34 tuần (đối với đa thai) hoặc khi thai kỳ có dấu hiệu sinh non hoặc vỡ ối non và sau khi có được sự đồng thuận của thai phụ.

Mẫu xét nghiệm được lấy ở cùng đồ bên âm đạo và trực tràng bằng 1 que tăm bông nhỏ. Kết quả thường sẽ có sau khi lấy mẫu 1 tuần, trường hợp sinh non hoặc vỡ ối non sẽ có kết quả sớm hơn.

3. Các yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm GBS ở trẻ sơ sinh:

  • Xét nghiệm GBS trước sinh dương tính
  • Trẻ sinh non hoặc vỡ ối non trước 37 tuần
  • Tiền căn có con bị nhiễm GBS ở lần sinh trước
  • Mẹ bầu có dấu hiệu nhiễm trùng hoặc sốt trong quá trình chuyển dạ
  • Vỡ ối lâu trên 24h trước sinh.

4. Các biện pháp giúp giảm nguy cơ lây nhiễm GBS cho trẻ sơ sinh:

– Điều trị kháng sinh cho những sản phụ bị nhiễm trùng tiểu do GBS.

– Sử dụng kháng sinh dự phòng trong quá trình chuyển dạ cho những trường hợp sau:

+ Có xét nghiệm GBS trước sinh dương tính

+ Mẹ không rõ nhiễm GBS nhưng có vỡ ối hoặc chuyển dạ xảy ra trước 37 tuần thai kỳ hoặc tiền căn có con bị nhiễm trùng sơ sinh do GBS ở lần sinh trước.

  • Penicillin là kháng sinh thường được sử dụng nhất để phòng ngừa nhiễm GBS khởi – Khi thai phụ nhiễm GBS được điều trị kháng sinh trong quá trình chuyển dạ, tỉ lệ lây truyền cho con giảm còn rất thấp (khoảng 1%).

5. Trẻ sơ sinh được theo dõi như thế nào?

  • Nếu con bạn sinh đủ tháng (sau 37 tuần) và bạn đã được tiêm kháng sinh khi chuyển dạ, thì trẻ không cần theo dõi đặc biệt sau sinh.
  • Nếu em bé của bạn có yếu tố nguy cơ nhiễm GBS và bạn đã không tiêm kháng sinh trong chuyển dạ, thì trẻ cần được theo dõi chặt chẽ về các dấu hiệu nhiễm trùng trong ít nhất 12 giờ đầu sau sinh. Việc theo dõi bao gồm đánh giá tình trạng chung của trẻ, nhịp tim, nhiệt độ, nhịp thở, khả năng bú hoặc nuốt sữa. Tỉ lệ trẻ sơ sinh bắt đầu phát triển nhiễm trùng GBS sau 12 giờ là rất thấp.
  • Sản phụ cần tiếp tục theo dõi trẻ tại nhà. Hãy thông báo với bác sĩ nếu trẻ có một hoặc nhiều biểu hiện gợi ý tình trạng nhiễm trùng như: Trẻ có tiếng thở bất thường, ngủ li bì hoặc quấy khóc liên tục, bỏ bú hoặc bú kém, sốt hoặc hạ thân nhiệt…

Nếu bạn nhận thấy bất kỳ dấu hiệu nào cần đưa trẻ ngay đến cơ sở y tế đồng thời đề cập đến tình trạng nhiễm GBS trước sinh. Nếu con bạn bị nhiễm GBS, việc chẩn đoán và điều trị sớm là rất quan trọng vì nếu chậm trễ có thể dẫn đến tình trạng nhiễm trùng nghiêm trọng hoặc thậm chí gây tử vong.

6. Nuôi con bằng sữa mẹ

Bà mẹ nhiễm GBS được khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ như những bà mẹ khác. Cho con bú sữa mẹ đã được chứng minh không làm tăng nguy cơ nhiễm GBS, nó mang lại nhiều lợi ích hơn cho bà mẹ và em bé

LIÊN CẦU KHUẨN NHÓM B VÀ THAI KỲ

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Khoa Sản – Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Số điện thoại khoa: 0962.413.867.

I. ĐẠI CƯƠNG

Liên cầu khuẩn nhóm B (Group B Streptococcus – GBS) là tác nhân gây nhiễm khuẩn hàng đầu liên quan đến thai kỳ và trẻ sơ sinh với tỉ lệ mắc và tử vong cao. Nguyên nhân chính của nhiễm khuẩn sơ sinh do GBS là sự lây truyền từ mẹ sang con, chủ yếu xảy ra trong quá trình chuyển dạ hoặc khi ối vỡ non, ối vỡ sớm

Tất cả thai phụ nên được tầm soát GBS thường quy khi thai trước khi sinh.

II. CHẨN ĐOÁN

2.1. Lâm sàng

2.1.1. Sản phụ

Hầu hết sản phụ thường không có biểu hiện gì khi nhiễm GBS. Một số trường hợp GBS gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu, nhiễm trùng ối, viêm nội mạc tử cung. GBS chứa nhiều men phospholipid A2 để tổng hợp prostaglandin E2 gây sẩy thai, thai lưu, vỡ ối sớm, sinh non…; gây viêm nhiễm các tổn thương đường sinh dục khi chuyển dạ

2.1.2. Trẻ sơ sinh

  • Nhiễm GBS khởi phát sớm: Nhiễm trùng huyết, viêm phổi, viêm màng não
  • Nhiễm GBS khởi phát muộn: Nhiễm trùng huyết, viêm màng não, nhiễm trùng các tạng hoặc mô mềm

2.2. Cận lâm sàng

  • Cấy định danh GBS dịch âm đạo và kháng sinh đồ
  • PCR dịch âm đạo và hậu môn: GBS Real-time PCR

III. XỬ TRÍ

3.1. Tầm soát GBS

  • Tầm soát GBS khi thai 35 tuần đến 37 tuần 6 ngày (đối với đơn thai) 32-34 tuần (đối với đa thai)
  • Các trường hợp đã có chỉ định dùng kháng sinh dự phòng như nhiễm trùng tiểu do GBS trong thai kỳ, tiền căn sinh con bị nhiễm GBS giai đoạn sơ sinh: không cần tầm soát GBS

3.2. Chỉ định dùng kháng sinh dự phòng

– Tiền căn mẹ: Tiền căn sinh con bị bệnh lý do GBS giai đoạn sơ sinh

– Thai kỳ hiện tại, có 1 trong các yếu tố:

+ Cấy GBS (+)

+ Nhiễm trùng tiểu do GBS trong thai kỳ

– Khi chuyển dạ, có 1 trong các yếu tố:

+ GBS (+) (phương pháp Real-time PCR)

+ Không rõ tình trạng nhiễm GBS khi có chuyển dạ hoặc kết quả xét nghiệm GBS (-) Và có yếu tố nguy cơ như: tuổi thai <= 37 tuần, vỡ ối >= 18 giờ, mẹ sốt trên 38 độ c

+ Không rõ tình trạng nhiễm GBS khi có chuyển dạ và mẹ nhiễm GBS ở thai kỳ trước

3.3. Sử dụng kháng sinh

TÀI LIỆU KHAM KHẢO

  1. Phác Đồ Sản phụ khoa Bệnh viện Từ Dũ (2025)
  2. Royal College of Obstetricians and Gynaecologists (2017)
  3. The American College of Obstetricians and Gynecologists (2019),

ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ – HIỂU ĐỂ BẢO VỆ MẸ VÀ BÉ

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi BSCKI. Cao Văn Dũng – Khoa Sản – Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Số điện thoại khoa: 0962.413.867.

1. Đái tháo đường thai kỳ là gì?

Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là tình trạng mức đường huyết tăng cao lần đầu tiên được phát hiện trong thời kỳ mang thai. Bệnh thường xuất hiện vào tam cá nguyệt thứ hai hoặc thứ ba do sự thay đổi nội tiết tố khiến cơ thể mẹ khó sử dụng insulin hiệu quả.

ĐTĐTK không phải là hiếm – khoảng 10–20% phụ nữ mang thai có thể gặp phải. Tuy nhiên, nếu được phát hiện và kiểm soát tốt, mẹ bầu vẫn có một thai kỳ hoàn toàn khỏe mạnh.

2. Ai có nguy cơ cao mắc đái tháo đường thai kỳ?

  • Mẹ mang thai trên 25 tuổi
  • Thừa cân, béo phì trước hoặc trong thai kỳ
  • Gia đình có người mắc tiểu đường
  • Tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu
  • Từng sinh em bé > 4kg
  • Từng bị ĐTĐTK ở lần mang thai trước

3. Dấu hiệu nhận biết

Phần lớn mẹ bầu không có triệu chứng rõ ràng, vì vậy việc tầm soát là cực kỳ quan trọng. Một số biểu hiện có thể gặp:

  • Khát nước nhiều
  • Đi tiểu nhiều
  • Mệt mỏi, sụt cân
  • Nhiễm nấm âm đạo tái phát

Nhưng nhắc lại: hầu hết không có dấu hiệu, nên đừng chờ đến khi có triệu chứng mới đi kiểm tra!

4. Tầm soát và chẩn đoán

Bác sĩ khuyến cáo tất cả phụ nữ mang thai nên tầm soát ĐTĐTK từ tuần 24–28 bằng nghiệm pháp dung nạp đường 75g (OGTT).
Những mẹ thuộc nhóm nguy cơ cao sẽ được tầm soát sớm hơn.

Tầm soát đơn giản, nhanh chóng và rất quan trọng cho sự an toàn của cả mẹ và bé.

5. Đái tháo đường thai kỳ có nguy hiểm không?

Nếu không kiểm soát tốt, ĐTĐTK có thể gây ra:

Đối với mẹ

  • Tiền sản giật
  • Sinh mổ cao hơn
  • Tăng nguy cơ tiểu đường type 2 sau sinh

Đối với thai nhi

  • Thai to (macrosomia)
  • Khó sinh, nguy cơ kẹt vai
  • Hạ đường huyết sau sinh
  • Nguy cơ béo phì và tiểu đường khi trưởng thành

Nhưng đừng quá lo lắng – 90% mẹ bầu kiểm soát tốt sẽ sinh con khỏe mạnh.

6. Cách kiểm soát đái tháo đường thai kỳ

🌿 Chế độ ăn uống khoa học

  • Ăn nhiều rau xanh, chất xơ
  • Hạn chế tinh bột nhanh: bánh mì trắng, cơm trắng nhiều
  • Chia nhỏ bữa ăn (5–6 bữa/ngày)
  • Uống đủ nước và tránh đồ uống có đường

🏃️ Vận động

  • Đi bộ 30 phút/ngày
  • Yoga, bơi lội dành cho bà bầu
  • Tránh vận động mạnh hoặc nguy hiểm

💉 Theo dõi đường huyết

  • Đo đường huyết tại nhà theo hướng dẫn bác sĩ
  • Một số trường hợp cần dùng insulin để kiểm soát đường huyết an toàn

7. Sau sinh cần làm gì?

  • Kiểm tra lại đường huyết sau sinh 6–12 tuần
  • Duy trì chế độ ăn và lối sống lành mạnh
  • Theo dõi định kỳ vì mẹ từng bị ĐTĐTK có nguy cơ mắc tiểu đường type 2 cao hơn

🔔 Thông điệp truyền thông

Đái tháo đường thai kỳ không đáng sợ – điều đáng sợ là không tầm soát!
Phát hiện sớm – Kiểm soát tốt – Mẹ khỏe, bé khỏe.

BỆNH TOXOPLASMA: HIỂU ĐỂ PHÒNG TRÁNH CHO CỘNG ĐỒNG

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi TS.BS Ngô Thanh Hà – Phó Trưởng khoa Vi rút Ký sinh trùng – Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Số điện thoại khoa: 02462.782.032.

Bệnh Toxoplasma (nhiễm ký sinh trùng Toxoplasma gondii) là một bệnh nhiễm trùng rất phổ biến. Đa số người khỏe mạnh nhiễm bệnh không có triệu chứng, nhưng nó đặc biệt nguy hiểm cho một số nhóm đối tượng nhất định.

Ai Có Nguy Cơ Cao?
Hãy đặc biệt cẩn thận nếu bạn thuộc một trong những nhóm sau:

Phụ nữ mang thai: Ký sinh trùng có thể truyền từ mẹ sang con, gây dị tật bẩm sinh nghiêm trọng cho thai nhi như tổn thương não, mắt, mù lòa, động kinh.

Người suy giảm miễn dịch: Bao gồm:

Người nhiễm HIV/AIDS.

Bệnh nhân đang hóa trị, xạ trị ung thư.

Người dùng thuốc ức chế miễn dịch (ghép tạng, điều trị tự miễn).

Người dùng thuốc ức chế TNF (điều trị viêm khớp, vảy nến…).

Trẻ sơ sinh bị nhiễm bẩm sinh: Ngay cả khi trông khỏe mạnh lúc sinh, trẻ vẫn có thể phát triển các vấn đề về thị lực, thính lực hoặc chậm phát triển trí tuệ sau này.

Các Dấu Hiệu và Triệu Chứng Cần Chú Ý
Tùy vào tình trạng sức khỏe, biểu hiện bệnh rất khác nhau:

Ở người khỏe mạnh:

Thường không có triệu chứng hoặc chỉ như cảm cúm nhẹ: sốt, mệt mỏi, đau đầu, nổi hạch cổ (hạch không đau, có thể tồn tại vài tuần đến vài tháng).

Rất hiếm gặp các biến chứng nặng như viêm não, viêm cơ tim.

Ở người suy giảm miễn dịch (BIỂU HIỆN NẶNG):

Viêm não: Đau đầu dữ dội, lú lẫn, co giật, yếu liệt nửa người.

Viêm phổi: Sốt, ho khan, khó thở.

Các vấn đề khác: Viêm võng mạc (nhìn mờ), viêm cơ tim.

Ở trẻ bị nhiễm bẩm sinh:

Tam chứng kinh điển: Não úng thủy (đầu to bất thường), lắng đọng calci trong não, viêm võng mạc màng mạch (có thể dẫn đến mù).

Các dấu hiệu khác: Vàng da, phát ban, lách to, gan to, chậm phát triển tâm thần vận động, động kinh.

Bệnh ở mắt (có thể gặp ở mọi đối tượng):

Nhìn mờ, nhìn méo hình.

Thấy chấm đen, “ruồi bay” trước mắt.

Đau mắt, sợ ánh sáng.

Có thể dẫn đến mất thị lực vĩnh viễn nếu không điều trị.

Làm Sao Để Phòng Ngừa?
Áp dụng ngay những biện pháp đơn giản sau:

Ăn chín, uống sôi: Nấu chín kỹ thịt (trên 63°C). Rửa tay và dụng cụ bếp sau khi chế biến thịt sống.

Rửa sạch rau quả dưới vòi nước chảy.

Khi nuôi mèo:

Cho mèo ăn thức ăn chín, khô hoặc đóng hộp.

Dọn khay vệ sinh hàng ngày (đeo găng tay). Phụ nữ mang thai nên tránh việc này.

Rửa tay kỹ sau khi chơi với mèo hoặc làm vườn.

Lưu ý quan trọng:

Bạn KHÔNG cần phải từ bỏ thú cưng. Chăm sóc và vệ sinh đúng cách là đủ để phòng bệnh.

Nếu thuộc nhóm nguy cơ cao và có các triệu chứng nghi ngờ, hãy đến gặp bác sĩ ngay để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Tóm lại: Hiểu biết về đối tượng nguy cơ và các dấu hiệu cảnh báo của bệnh Toxoplasma là bước đầu tiên để bảo vệ sức khỏe. Thực hành an toàn vệ sinh thực phẩm và môi trường là chìa khóa phòng ngừa hiệu quả cho cả gia đình.

HỒI SỨC THÀNH CÔNG BỆNH NHI 15 TUỔI SAU NGỪNG TIM VÌ ĐUỐI NƯỚC

Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương vừa tiếp nhận và cứu sống một bệnh nhi 15 tuổi ở Hà Nội trong tình trạng hôn mê sâu sau đuối nước, nguy cơ tử vong rất cao. Theo người trực tiếp cứu hộ và đưa vào viện, em G.B bị trượt chân ngã xuống hồ sâu trong lúc câu cá. Khi được phát hiện và đưa lên bờ, em đã rơi vào tình trạng hôn mê, tím tái, ngừng thở và ngừng tuần hoàn. Ngay lập tức, người dân đã tiến hành ép tim cấp cứu tại chỗ trong khoảng 5 phút. Sau khi có nhịp tim tự nhiên trở lại, bệnh nhi nhanh chóng được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Tại Khoa Cấp cứu, bệnh nhi G.B nhập viện trong tình trạng hôn mê sâu, điểm Glasgow chỉ 5–6 điểm, đồng tử hai bên giãn tối đa, phản xạ ánh sáng yếu, mạch 80 lần/phút, phổi có nhiều rale ẩm, chi lạnh, bụng chướng hơi. Trước tình trạng nguy kịch, bệnh nhân được hồi sức tích cực, đặt nội khí quản, thở máy, hồi sức tim phổi, truyền dịch, sưởi ấm và chuyển ngay đến Trung tâm Hồi sức tích cực để tiếp tục hồi sức chuyên sâu. Do thời gian ngừng tuần hoàn sau đuối nước không xác định rõ, tiên lượng sống rất thấp, tuy nhiên các bác sĩ vẫn nỗ lực tối đa để giành giật sự sống cho bệnh nhi.

Thạc sĩ, bác sĩ Phạm Văn Phúc, Phó Giám đốc Trung tâm Hồi sức tích cực cho biết, khi nhập viện bệnh nhi trong tình trạng hôn mê, suy hô hấp nặng, nguy cơ tổn thương não rất cao. Sau 72 giờ theo dõi và điều trị tích cực, bệnh nhi được giảm an thần để đánh giá tri giác. Kết quả cho thấy tri giác cải thiện rõ, các phản xạ phục hồi tốt. Hiện tại, sau 4 ngày điều trị, bệnh nhi đã tỉnh táo, nhận biết khi gọi hỏi, sức khỏe tiến triển tốt và chưa ghi nhận di chứng thần kinh.
Bác sĩ Phúc nhấn mạnh, vài phút đầu sau khi trẻ bị đuối nước là “thời gian vàng” quyết định khả năng sống còn và mức độ hồi phục thần kinh. Nếu sơ cứu không kịp thời và không đúng cách, tình trạng thiếu oxy não kéo dài có thể dẫn đến tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề, ngay cả khi đã được hồi sức tích cực tại bệnh viện. Não chỉ có thể chịu đựng thiếu oxy trong khoảng 4–5 phút, sau thời gian này tổn thương não thường không hồi phục. Vì vậy, khi phát hiện trẻ đuối nước trong tình trạng hôn mê, ngừng thở, ngừng tim, cần tiến hành hồi sức tim phổi ngay lập tức (ép tim, thổi ngạt) và nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế gần nhất.
Tai nạn đuối nước ở trẻ em thường xảy ra rất nhanh và trong những tình huống tưởng chừng quen thuộc, như vui chơi, câu cá tại ao, hồ, sông suối, kênh mương. Chỉ một phút lơ là, thiếu giám sát của người lớn cũng có thể dẫn đến hậu quả thảm khốc.
Qua sự việc, bác sĩ Phúc khuyến cáo cha mẹ và người chăm sóc cần tăng cường quản lý, giám sát trẻ, đặc biệt trong dịp nghỉ học, khi trẻ thường tụ tập vui chơi gần ao, hồ, sông, suối, công trình nước. Bên cạnh đó, gia đình cần chủ động trang bị cho trẻ các kỹ năng phòng, chống đuối nước, như học bơi an toàn, kỹ năng tự nổi, kỹ năng kêu cứu, cách sử dụng các dụng cụ cứu hộ đơn giản và tuyệt đối không lao xuống nước cứu người khi không có phương tiện, không có kỹ năng, mà cần tìm vật nổi, gọi người lớn và lực lượng cứu hộ hỗ trợ kịp thời.
                                                                                                                                                       Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

BÉ TRAI 10 TUỔI PHẢI NỘI SOI GẮP NHIỀU DỊ VẬT TRONG TAI

Vừa qua, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương đã tiếp nhận một trường hợp bé trai V.H.P. (10 tuổi, trú tại Hà Nội) bị rối loạn tự kỷ kèm tăng động giảm chú ý, tự ý đưa nhiều dị vật vào tai.

Theo gia đình, khoảng 3 ngày trước khi nhập viện, trẻ có biểu hiện ngứa tai và liên tục ngoáy tai. Khi kiểm tra bằng đèn pin, người mẹ phát hiện ống tai ngoài bị bít kín bởi một mảnh giấy vo tròn nằm sâu bên trong nhưng không thể tự lấy ra. Do trẻ không hợp tác, càng ngoáy tai khiến dị vật chui sâu hơn, gia đình buộc phải đưa trẻ đến bệnh viện.

Tại phòng khám Tai Mũi Họng, các bác sĩ đã tiến hành nội soi và gắp dị vật. Kết quả ghi nhận 1 mảnh tăm tre, 3 cục giấy cuộn và một số dị vật nhỏ khác nằm sâu trong ống tai.

Bác sĩ CKI Trịnh Thùy Liên – người trực tiếp xử trí ca bệnh – cho biết, đây là trường hợp may mắn vì các dị vật chưa gây tổn thương đến màng nhĩ. Tuy nhiên, nếu chậm trễ hoặc xử trí không đúng cách, trẻ có nguy cơ cao bị viêm nhiễm, thủng màng nhĩ, thậm chí ảnh hưởng đến thính lực sau này.

Bác sĩ Liên phân tích: Trẻ mắc rối loạn tự kỷ kèm tăng động giảm chú ý thường khó kiểm soát hành vi, hiếu động, thiếu nhận thức về nguy cơ. Vì vậy, trẻ dễ thực hiện các hành vi nguy hiểm như đưa dị vật vào tai, mũi hoặc miệng.

Bác sĩ Liên khuyến cáo, với trẻ tự kỷ tăng động giảm chú ý, trẻ gần như không thể ngồi yên, luôn chuyển động, chạy nhảy, leo trèo và không nhận thức được mức độ nguy hiểm của hành vi. Vì vậy, người lớn cần đặc biệt chú ý: tuyệt đối tránh để trẻ nhỏ chơi một mình với các đồ vật nhỏ như khuy áo, cặp ghim, dây chun, đồ chơi lắp ghép có các  chi tiết nhỏ. Nếu trẻ có biểu hiện bất thường, quấy khóc không rõ nguyên nhân, cần kiểm tra và đưa trẻ đi khám càng sớm càng tốt. Không tự ý sử dụng các dụng cụ lấy dị vật tại nhà vì có thể khiến di vật đi sâu hơn, gây tổn thương nghiêm trọng.

Cần thường xuyên quan sát và kiểm tra kỹ để tránh bỏ sót những di vật tưởng chừng nhỏ bé vô hại nhưng có thể gây nguy hiểm cho trẻ bất cứ lúc nào. Khi nghi ngờ có dị vật, cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa Tai Mũi Họng để được nội soi và xử trí an toàn.

Sự quan sát tỉ mỉ và hành động kịp thời của cha mẹ chính là “lá chắn” tốt nhất bảo vệ thính giác và sự phát triển của trẻ.

                                                                                                                                                           Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

PHÁT HIỆN U TINH HOÀN ÁC TÍNH Ở TRẺ 13 THÁNG TUỔI TỪ DẤU HIỆU SƯNG BÌU

Chỉ trong 2–3 tuần, vùng bìu trái của một bệnh nhi 13 tháng tuổi sưng to nhanh chóng. Ban đầu được chẩn đoán nang mào tinh hoàn – bệnh lý lành tính thường gặp – nhưng trong quá trình phẫu thuật, các bác sĩ phát hiện khối u ác tính và buộc phải cắt bỏ một bên tinh hoàn để bảo toàn tính mạng cho trẻ.

Theo gia đình, khoảng 2 – 3 tuần trước khi nhập viện, bệnh nhi N.T.D (13 tháng tuổi, trú tại Phú Thọ) xuất hiện tình trạng sưng to vùng bìu trái. Khi sờ vào thấy khối rắn, chắc nhưng trẻ không sốt, không quấy khóc bất thường nên gia đình vẫn theo dõi. Sau khi thăm khám tại cơ sở y tế địa phương và được chẩn đoán nang tinh hoàn trái, gia đình tiếp tục theo dõi tại nhà. Tuy nhiên, chỉ trong vòng một tuần gần đây, vùng bìu trái sưng to lên nhanh chóng, buộc gia đình phải đưa cháu nhập viện tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

BSCKII Trần Thượng Việt, Trưởng Khoa Ngoại Tiết niệu và Nam học, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cho biết, thời điểm nhập viện, bệnh nhi có khối phồng vùng bẹn trái, có thể đẩy lên được. Siêu âm ghi nhận cạnh tinh hoàn trái có khối kích thước khoảng 2 x 3cm, mật độ chắc, ấn không đau. Dựa trên các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng, trẻ được chẩn đoán nang mào tinh hoàn trái – một bệnh lý thuộc diện ống phúc tinh mạc thường gặp ở trẻ nhỏ và có chỉ định can thiệp ngoại khoa.

Tuy nhiên, khi vừa tiến hành rạch da phẫu thuật, kíp mổ đã đối mặt với tình huống ngoài dự kiến. “Ngay khi mở ra, chúng tôi nhận thấy tinh hoàn trái của bệnh nhi to bất thường, gấp khoảng 3 lần kích thước bình thường và có màu sắc bất thường. Nhận định đây có thể là tổn thương ác tính, kíp mổ lập tức tiến hành sinh thiết tức thì.” BS Việt chia sẻ.

Kết quả sinh thiết cho thấy hình ảnh Carcinoma – một dạng ung thư xuất phát từ tế bào biểu mô có tính chất xâm lấn. Trước tình huống khẩn cấp, một cuộc hội chẩn chớp nhoáng ngay tại phòng mổ đã diễn ra. Để ngăn chặn nguy cơ di căn sang tinh hoàn còn lại và các cơ quan khác, các bác sĩ buộc phải đưa ra quyết định cắt bỏ hoàn toàn tinh hoàn trái của bệnh nhi. Sau hơn 1 giờ phẫu thuật, ca mổ diễn ra thành công. Một ngày sau mổ, bệnh nhi tỉnh táo, tiếp xúc tốt, bú tốt, vết mổ khô, tiến triển ổn định.

Theo bác sĩ Vũ Xuân Ngọc, phụ trách Khoa Giải phẫu bệnh cho biết: kết quả xét nghiệm giải phẫu bệnh khẳng định trẻ mắc u tế bào mầm ác tính. Đây là loại u phát sinh từ các tế bào sinh sản, còn gọi là tế bào mầm. U tế bào mầm ác tính có khả năng lan sang các bộ phận khác của cơ thể nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời. Sự lan rộng của ung thư (di căn) có thể gây tổn thương các cơ quan và gây khó khăn cho việc điều trị.

Hiện tại, bệnh nhi đang dần hồi phục sức khỏe và tiếp tục được theo dõi sát sao để có phác đồ điều trị bổ trợ phù hợp, nhằm đảm bảo trẻ có thể phát triển khỏe mạnh trong tương lai.

Ngoài việc lưu ý các dấu hiệu bất thường, các bác sĩ khuyến cáo phụ huynh nên chủ động kiểm tra vùng bẹn – bìu cho trẻ trong quá trình chăm sóc hằng ngày như khi tắm, thay tã. Nếu phát hiện một bên bìu to bất thường, sờ thấy khối cứng, không đều hoặc kích thước thay đổi nhanh trong thời gian ngắn, cần đưa trẻ đi khám sớm, không nên chần chừ.

Đặc biệt, các dấu hiệu như bìu to nhanh trong vài ngày, sờ chắc, không xẹp khi nằm hoặc có sự khác biệt rõ rệt giữa hai bên tinh hoàn là những cảnh báo quan trọng. Ngay cả khi trẻ không đau, không sốt, phụ huynh vẫn cần đưa trẻ đi thăm khám chuyên khoa, bởi nhiều bệnh lý nguy hiểm ở trẻ nhỏ có thể diễn tiến âm thầm.

Phụ huynh cũng không nên tự theo dõi kéo dài hoặc hoàn toàn yên tâm với chẩn đoán ban đầu nếu khối bất thường vẫn tiếp tục lớn lên. Trong trường hợp cần thiết, nên đưa trẻ đến các cơ sở y tế có chuyên khoa ngoại nhi hoặc nam học để được siêu âm, đánh giá lại và can thiệp kịp thời.

Phát hiện sớm không chỉ giúp nâng cao hiệu quả điều trị mà còn góp phần bảo tồn tối đa chức năng sinh lý, đảm bảo sự phát triển bình thường và tương lai lâu dài của trẻ.

                                                                                                                                                           Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

TỪ VÀI NỐT PHỎNG NƯỚC DO THỦY ĐẬU, BÉ TRAI 6 TUỔI NGUY KỊCH

Khoa Nhi – Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương hiện đang nỗ lực điều trị cho một bệnh nhi 6 tuổi (Lai Châu) nhập viện trong tình trạng nguy kịch. Từ những nốt phỏng nước thủy đậu thông thường, bệnh đã diễn tiến nhanh chóng thành suy hô hấp nặng và nhiễm khuẩn huyết do phế cầu

Theo bệnh sử, trẻ khởi phát bệnh khoảng 6 ngày trước khi nhập viện với triệu chứng sốt cao liên tục và xuất hiện ban phỏng nước toàn thân. Dù đã được điều trị tại cơ sở y tế địa phương 2 ngày, tình trạng của trẻ không thuyên giảm mà càng trầm trọng hơn: các nốt phỏng dày đặc, xuất huyết , chảy máu, kèm theo dấu hiệu suy hô hấp khởi phát.

Khi chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, bệnh nhi đã có suy hô hấp và được hỗ trợ thở oxy. Tuy nhiên, diễn biến lâm sàng thay đổi rất nhanh. Chỉ sau khoảng 2 giờ nhập viện, tình trạng suy hô hấp tăng lên, trẻ không còn đáp ứng với thở oxy thông thường và phải chuyển sang thở máy không xâm nhập. Đến khoảng 3 giờ sáng hôm sau, trẻ kích thích nhiều, thở nhanh, SpO₂ tụt, ứ đọng đờm dãi, buộc các bác sĩ phải đặt nội khí quản và chuyển sang thở máy xâm nhập. Như vậy, chỉ trong chưa đầy nửa ngày, từ một bệnh nhi thủy đậu có suy hô hấp, trẻ đã tiến triển đến tình trạng suy hô hấp nặng phải thở máy.

BS Nguyễn Thành Lê, Phó Trưởng kho Nhi cho biết, bệnh nhi nhập viện trong tình trạng rất nặng, không chỉ suy hô hấp mà còn có xuất huyết nhiều vị trí như xuất huyết trong các nốt phỏng nước, chảy máu mũi, xuất huyết tiêu hóa, kèm rối loạn đông máu nặng và mất máu nhanh. Các xét nghiệm ghi nhận tình trạng viêm rất nặng (trong đó chỉ số Procalcitonin tăng trên 100, trong khi bình thường dưới 0,05). Kết quả cấy máu xác định tác nhân phế cầu, cho thấy trẻ đã bị nhiễm khuẩn huyết nặng trên nền thủy đậu.

Sau 2 ngày điều trị tích cực bằng thuốc kháng virus và kháng sinh liều cao, tình trạng chảy máu bước đầu được kiểm soát, các chỉ số đông máu dần cải thiện, chỉ số viêm có xu hướng giảm. Tuy nhiên, bệnh nhi vẫn còn sốt cao liên tục và tình trạng bệnh vẫn được đánh giá rất nặng. Đến ngày thứ 4, trẻ tiếp tục sốt cao, các chỉ số viêm tăng trở lại, cho thấy diễn biến bệnh còn phức tạp và cần tiếp tục theo dõi, điều trị sát.

BS Lê nhấn mạnh, nhiều người vẫn cho rằng thủy đậu chỉ là bệnh ngoài da với vài nốt phỏng nước đơn giản. Tuy nhiên, nếu các tổn thương da không được chăm sóc đúng cách, vi khuẩn có thể xâm nhập gây bội nhiễm dẫn đến nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi, rối loạn đông máu và suy hô hấp nặng. Trong trường hợp này, thủy đậu diễn biến nặng đồng thời với nhiễm khuẩn huyết do phế cầu, khiến tình trạng của trẻ trở nên nguy kịch.

BS Lê khuyến cáo, khi trẻ xuất hiện sốt, nổi ban phỏng nước nghi thủy đậu, gia đình cần đưa trẻ đi khám sớm để được chẩn đoán và điều trị kháng virus kịp thời. Việc chăm sóc da đúng cách, giữ vệ sinh các nốt phỏng, tránh gãi, tránh làm vỡ tổn thương là rất quan trọng để hạn chế bội nhiễm.

Ngoài ra, thủy đậu là bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc xin. Trẻ nên được tiêm vắc xin thủy đậu từ 12 tháng tuổi để giảm nguy cơ mắc bệnh và hạn chế các biến chứng nặng.

                                                                                                                                                Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

HY HỮU GIA ĐÌNH 3 THẾ HỆ NAM GIỚI MẮC RÒ LUÂN NHĨ

Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương vừa phẫu thuật thành công ca bệnh rò luân nhĩ hai bên tai cho một bệnh nhi 6 tuổi. Điều đáng chú ý là yếu tố gia đình rất đậm nét, phản ánh rõ rệt tính chất di truyền của dị tật bẩm sinh này qua 3 thế hệ nam giới.

Bệnh nhi N.V (6 tuổi, trú tại Lào Cai) nhập viện trong tình trạng có lỗ rò luân nhĩ bẩm sinh xuất hiện ở vùng trước vành tai cả hai bên. Qua khai thác tiền sử gia đình, các bác sĩ ghi nhận cả 3 thế hệ nam giới trong gia đình, từ đời ông nội đến đời cháu, đều mang dị tật này và đều đã phải can thiệp phẫu thuật bóc tách đường rò. Bản thân bệnh nhi V. là thành viên thứ 4 trong gia đình ghi nhận dị tật này.

Theo lời kể của người nhà, hai lỗ rò trước tai của cháu V. thường xuyên tiết ra chất bã đậu màu trắng, chảy dịch có mùi hôi và gây ngứa ngáy khó chịu khi bị bít tắc. Nhận thấy lỗ rò tạm thời khô ráo, không sưng viêm cấp tính, gia đình đã chủ động đưa cháu đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương để phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn đường rò hai bên. Việc can thiệp sớm này nhằm triệt tiêu nguy cơ tái viêm nhiễm và áp-xe nguy hiểm – biến chứng mà người anh trai (12 tuổi) của cháu từng gặp phải trước đây.

Bác sĩ chuyên khoa I Trịnh Thùy Liên, chuyên khoa Tai Mũi Họng (Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương) cho biết, sau quá trình phẫu thuật bóc tách tỉ mỉ, toàn bộ đường rò, một phần màng sụn vành tai ở đáy xoang và phần sụn sát chân đường rò đã được loại bỏ nhằm triệt tiêu hoàn toàn chân rò. Sau hơn 1 giờ, ca mổ loại bỏ lỗ rò luân nhĩ hai bên tai cháu V. đã thành công tốt đẹp.

“Sau 1 ngày phẫu thuật, tình trạng của cháu V. ổn định, tỉnh táo, các chỉ số sinh tồn bình thường và không sốt. Vết mổ khô sạch, không sưng nề, đau ít, bệnh nhân không cần dùng thuốc giảm đau sau mổ”, bác sĩ Liên thông tin.

Rò luân nhĩ là một dị tật bẩm sinh lành tính, hình thành do sự hợp nhất không hoàn chỉnh của các gờ cấu tạo nên tai ngoài trong khoảng tuần thứ 6 của thai kỳ. Dị tật này biểu hiện là một lỗ nhỏ ở vùng trước vành tai, đi sâu vào trong và bám vào màng sụn tai.

Rò luân nhĩ được ghi nhận có liên quan đến yếu tố di truyền ở một số trường hợp. Dị tật này có xu hướng di truyền theo tính trạng trội trên nhiễm sắc thể thường nhưng có hiện tượng độ thấm không hoàn toàn. Điều này lý giải vì sao kiểu hình này có thể lặp lại liên tục hoặc nhảy vọt qua các thành viên, và trong trường hợp đặc biệt của gia đình bệnh nhi V., dị tật đã biểu hiện liên tục ở các thành viên nam qua 3 thế hệ.

Mặc dù rò luân nhĩ là dị tật lành tính, song bên trong lỗ rò lại là một hệ thống ống lót bằng biểu mô có khả năng bài tiết dịch. Nếu không được vệ sinh đúng cách, dịch tích tụ lâu ngày sẽ dẫn đến nhiễm trùng, hóa mủ hoặc hình thành khối áp-xe.

BSCKI Trịnh Thùy Liên khuyến cáo, việc theo dõi sát sao biểu hiện của lỗ rò là cực kỳ quan trọng. Tình trạng viêm nhiễm tái diễn nhiều lần không chỉ gây đau đớn mà còn có nguy cơ như viêm tấy, áp xe quanh lỗ rò, viêm sụn vành tai, tiêu sụn thậm chí dị hình vành tai, viêm tắc tĩnh mạch xoang và liệt mặt. Khi lỗ rò có dấu hiệu chảy dịch hôi, sưng, nóng, đỏ, đau, gia đình cần đưa trẻ đến ngay các cơ sở y tế chuyên khoa để được thăm khám. Thời điểm lý tưởng nhất để phẫu thuật điều trị triệt để là khi tổn thương đã qua giai đoạn viêm cấp tính.

                                                                                                                                                       Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

HỘI CHỨNG THẬN HƯ

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Khoa Nhi – Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Số điện thoại Khoa Nhi : 0961.265.488

HỘI CHỨNG THẬN HƯ LÀ GÌ?

-Hội chứng thận hư (HCTH) ở trẻ em là một rối loạn lâm sàng đặc trưng bởi sự mất protein qua nước tiểu nhiều, dẫn đến giảm protein máu, phù và tăng lipid máu. Tất cả các mô cơ thể đều có thể bị phù, nhưng những vị trí phù rõ nhất là bụng, chân, mặt, dương vật và bìu.

Bệnh hay gặp nhất là ở trẻ 2-3 tuổi, nhưng mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh này

– Nghĩ đến Hội chứng thận hư và đưa trẻ đến gặp bác sĩ khi con có các dấu hiệu:

+ Trẻ bỗng dưng sưng phù mặt (nhất là buổi sáng), sau đó phù toàn thân, tăng cân nhanh

+ Trẻ tiểu ít hơn bình thường

+ Có thể kèm mệt mỏi, chán ăn, tiêu chảy nhẹ

– Nếu được điều trị đúng, kịp thời, tuân thủ phác đồ, đa số trẻ sẽ khỏi hoàn toàn, tuy nhiên, bệnh dễ tái phát.

– Nếu trẻ đã được chẩn đoán và đang điều trị Hội chứng thận hư, phụ huynh cần:

+ Cho bé uống thuốc đúng giờ, đủ liều

+ Cho ăn nhạt, giàu đạm, tránh đồ hộp, nước ngọt

+ Theo dõi: cân nặng, phù, nước tiểu

+ Đưa trẻ tái khám đúng hẹn

+ Cho trẻ tái khám ngay nếu trẻ có biểu hiện: sốt, mệt nhiều, tiểu ít, phù tăng

DỊCH TỄ

– Hội chứng thận hư (HCTH) : bệnh lí cầu thận phổ biến nhất trong các  bệnh lí cầu thận ở trẻ em

– Tỷ lệ mắc 1-3/100.000 trẻ dưới 16 tuổi

– Nam/nữ  = 3/1

– 70-80% đáp ứng với cocticoid

PHÂN LOẠI

– HCTH tiên phát: không rõ nguyên nhân

– HCTH thứ phát sau lupus, Schonlein Henoch, viêm gan, HIV, giang mai…

– HCTH bẩm sinh: xuất hiện HCTH trước 3 tháng tuổi

CƠ CHẾ BỆNH SINH

– Cơ chế bệnh sinh còn chưa hoàn toàn sáng tỏ.

– Dưới đây là sinh lí bệnh của các dấu hiệu chính trong HCTH:

1. Protein niệu nhiều do:

– Bình thường màng lọc cầu thận ngăn không cho các đại phân tử đi qua nhờ 2 cơ chế chủ yếu:

– Cấu trúc màng lọc gồm nhiều lớp, có cấu trúc dạng tổ ong, chỉ cho phép các phân tử nhỏ < 60 nm đi qua .

– Do điện tích âm ở bề mặt màng lọc cầu thận nên các protein mang điện tích (-) bị đẩy trở lại.

– Trong HCTH tiên phát, các protein đặc biệt là các Albumin qua được là do:

  • Biến đổi cấu trúc màng lọc, mở rộng lỗ lọc.
  • Quan trọng hơn là: mất điện tích âm màng đáy hoặc ở protein.

2. Giảm protein máu, đặc biệt là Albumin :

– Cơ chế chủ yếu giảm protein máu là mất qua thận.

– Có sự tăng giáng hoá Albumin ở ống thận.

– Mất protein qua ruột (thường không đáng kể).

Do giảm protid máu nên gan tăng khả năng tổng hợp protein đặc biệt là Albumin nhưng vẫn không bù được lượng protein mất qua nước tiểu (làm cho gan hơi to lên).

3. Tăng lipid và cholesterol máu:

– Các biến đổi này góp phần vào xơ vữa động mạch sớm, tăng tiến triển của tổn thương cầu thận.

– Cơ chế:

  • Tăng tổng hợp lipoprotein ở gan do giảm Albumin máu.
  • Tăng apolipoprotein B100 làm tăng protêin vận chuyển cholesterol.
  • Giảm giáng hoá lipid vì hoạt tính men lipoproteinlypase (LPL) và lecithin-cholesterol acyltransferase giảm do mất qua nước tiểu.
  • Phù:

– Cơ chế rất phức tạp, chưa hoàn toàn sáng tỏ.

– Có 3 cơ chế:

  • Giảm áp lực keo: do giảm protein nhất là giảm Albumin máu, dẫn đến mất cân bằng lực Starling.
  • Từ đó hoạt hoá hệ Renin-Angiotensin-Aldosteron, làm tăng giữ muối và nước.
  • Biến đổi hệ số lọc cầu thận do giảm thể tích tuần hoàn.

TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN

– Phù

– Protid <56g/l

– Albumin< 25 g/l

– Protein niệu > 1000mg/m2/24h hoặc protein niệu (g)/creatinine niêu (mmol) > 0.2 g/mmol

+ Protein niệu ngưỡng thận hư: Mẫu nước tiểu buổi sáng protein/creatinin ≥ 200 mg/mmol or nước tiểu 24 giờ ≥ 1000 mg/ngày tương đương 3 + hoặc 4+ trên que thử.

MỘT SỐ KHÁI NIỆM

– HCTH tái phát

+ Tái phát một phần: protein/creatinin niệu > 0.2  (g/mmol) hoặc que thử nước tiểu vào buổi sáng ≥ 2 (+) trong ba ngày liên tiếp

+ Tái phát đầy đủ: phù, giảm albumin máu < 25g/l

– HCTH tái phát không thường xuyên

Tái phát sau lần đầu tiên, với < 2 lần trong 6 tháng hoặc < 4 lần trong 1 năm.

-HCTH tái phát thường xuyên

Tái phát sau lần đầu tiên, với ≥ 2 lần trong 6 tháng hoặc ≥ 4 lần trong 1 năm.

– HCTH thể phụ thuộc

Tái phát thường xuyên với 2 lần liên tiếp trong liệu trình corticoid hoặc trong 2 tuần sau khi ngừng thuốc.

– HCTH kháng thuốc

Không đạt được sự thuyên giảm sau 6 tuần dùng liệu pháp prednisolon liều cao hàng ngày (60mg/m2/ngày)

Hoặc sau 4 tuần liều cao cộng với 3 mũi solumedrol 30mg/kg/48giờ

Hoặc 4 tuần liều cao và 4 tuần liều 1.5mg/kg/48 giờ.

– HCTH kháng corticoid (SRNS): Không thuyên giảm hoàn toàn sau 4 tuần điều trị liều chuẩn

=> Giai đoạn xác định chẩn đoán (4-6 tuần): Sau  4 tuần liều prednisonle ban đầu

+ Nếu bệnh nhân thuyên giảm 1 phần tiếp tục 2 tuần liều prednisone 2 mg/k/ngày và hoặc IV methylprednisone 15mg/kg/ngày x 3 ngày và ức chế men chuyển.

+ Nếu thuyên giảm hoàn toàn được chẩn đoán đáp ứng muộn.

+ Không thuyên giảm hoàn toàn được chẩn đoán SRNS

BIẾN CHỨNG

– Rối loạn thăng bằng nước, điện giải

– Suy thận cấp

– Nhiễm trùng: Viêm phúc mạc do phế cầu, viêm đường hô hấp trên, viêm phổi, viêm mô tế bào.

– Tắc mạch: do tăng đông, giảm thể tích tuần hoàn

– Giảm khối lượng tuần hoàn

– Rối loạn tăng trưởng

– Chậm phát triển chiều cao

– Suy giáp: do thoát protein mang Iod

– SDD do thiếu đạm

CHỈ ĐỊNH SINH THIẾT THẬN

– Hội chứng thận hư kháng thuốc

– Trẻ <1 tuổi

– Trẻ > 10 tuổi nếu hội chứng thận hư kháng thuốc hoặc phụ thuộc.

– Tăng huyết áp.

– Đái máu đại thể hoặc hồng cầu niệu (+++)

– Bổ thể máu giảm.

– Suy thận.

– Tiền sử gia đình suy thận và nghe kém.

ĐIỀU TRỊ

ĐIỀU TRỊ HỖ TRỢ

– Chế độ ăn.

+ Năng lượng bình thường, chất béo thấp, không dùng đường tinh (10-

14% protein, 40- 50% chất béo không bão hòa, 40- 50% carbohydrate).

+ Hạn chế muối nếu có phù.

+ Hạn chế 50% dịch duy trì nếu có phù.

Giảm protein niệu

Thuốc ức chế men chuyển (ACE inhibitor)

Thuốc ức chế receptor Angiontension II

Kháng viêm nonsteroid: Khi chức năng thận bình thường

– Kiểm soát phù: albumin 20% liều 1g/kg trong 4h

Chỉ định truyền albumin:

Shock hoặc tiền shock.

Albumin máu dưới 20 g/l.

Bệnh nhân phù nhiều kéo dài kém đáp ứng với thuốc lợi tiểu

Lợi tiểu kéo dài: bệnh nhân phù không thuyên giảm

Kết hợp Furosemide 1-2 mg/kg và Spironolactone 1- 2mg/kg/24 giờ

Kháng sinh: khi có biểu hiện nhiễm trùng

– Tiêm phòng: sởi, quai bị, rubella, varicella, rotavirus khi

+ Dùng Prednisolone <1mg/kg/24h (< 20mg/24h) or < 2mg/kg/48h (<40mg/48h).

+ Ngừng thuốc độc tế bào (cyclophosphamide, chlorambucil) ít nhất 3 tháng.

+ Ngừng thuốc ức chế miễn dịch khác cyclosporine, levamisol, mycopenolate > 1 tháng.

THEO DÕI

– Cân nặng, chiều cao, que nước tiểu.

– Chủng ngừa đầy đủ.

– Học vấn, vận động thể lực.

– Quan điểm chung.

– Trong giai đoạn đầu nên cho bệnh nhân nhập viện. Cần giảm số lần nhập viện và giải thích rõ nguy cơ tái phát. Không cho trẻ ngưng đi học.

– Tiên lượng tốt đối với dạng đáp ứng với Corticoid.

BỆNH THAN

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi TS.BS Nguyễn Mạnh Trường – Trưởng phòng đào tạo – Viện đào tạo và Nghiên cứu các Bệnh Nhiệt đới – Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

1.BỆNH THAN LÀ GÌ?

Bệnh than là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nghiêm trọng do vi khuẩn than có tên khoa học là Bacillus anthracis gây nên. Khi tiếp xúc với mầm bệnh than cả người và động vật đều có thể bị bệnh nghiêm trọng và có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng.

2.VI KHUẨN THAN Ở ĐÂU?

Vi khuẩn than có ở trong đất, nước, cây cỏ bị nhiễm bẩn. Ở ngoài môi trường vi khuẩn than tồn tại dưới dạng nha bào hay còn gọi là bào tử. Vi khuẩn than có sức đề kháng kém, rất dễ bị tiêu diệt bởi nhiệt độ và các chất sát khuẩn thông thường, nhưng bào tử của vi khuẩn có sức đề kháng rất cao, chúng có thể tồn tại ở điều kiện thông thường trong nhiều năm, thậm chí hàng chục năm mà vẫn duy trì được khả năng gây bệnh.

3.ĐỘNG VẬT BỊ BỆNH THAN NHƯ THẾ NÀO?

Vi khuẩn than chủ yếu gây bệnh cho động vật, đặc biệt phổ biến là các loài gia sức ăn cỏ như trâu, bò, ngựa, cừu, hươu, nai… Động vật bị bệnh do chúng hít hay nuốt phải các bào tử trong môi trường sống. Hầu hết gia súc mắc bệnh than sẽ bị chết.

4.TẠI SAO CON NGƯỜI BỊ BỆNH THAN?

Con người bị bệnh than hầu hết do tiếp xúc hoặc ăn thịt gia súc mắc bệnh. Bào tử của vi khuẩn than có thể xâm nhập vào cơ thể con người. Sau khi xâm nhập vào cơ thể bào tử vi khuẩn hoạt hóa trở thành vi khuẩn gây bệnh, vi khuẩn sinh sôi nảy nở lan ra khắp cơ thể, sinh ra các chất độc và gây ra các biểu hiện bệnh.

5.CON NGƯỜI BỊ BỆNH THAN NHƯ THẾ NÀO?

Người bị bệnh than là do bào tử của vi khuẩn than xâm nhập vào cơ thể qua:

– Da bị tổn thương có thể xảy ra khi con người tiếp xúc với sản phẩm từ động vật bị nhiễm các bào tử vi khuẩn, các bào tử này dính vào vết xây xước, vết cắt trên da người.

– Đường hô hấp xảy ra khi một người hít phải các bào tử vi khuẩn có trong không khí như trong quá trình chế biến các vật liệu nhiễm bệnh như len, lông, da

– Đường tiêu hóa do người ăn thịt sống hay chưa nấu kỹ của động vật bị nhiễm bệnh.

6.BIỂU HIỆN CỦA BỆNH THAN NHƯ THẾ NÀO?

Có 3 thể bệnh than tương ứng với ba con đường xâm nhập của bào tử và gây ra các biểu hiện và tính chất khác nhau:.

  • Bệnh than do nhiễm qua đường da

Bệnh than nhiễm qua da là thể bệnh phổ biến nhất (chiếm 94-95%) và cũng ít nguy hiểm nhất. Khi chúng ta tiếp xúc với động vật bị bệnh và các chất thải của chúng, hoặc trực tiếp làm thịt những động vật bị chết do bệnh than thì bào tử vi khuẩn than xâm nhập vào cơ thể người thông qua những vết xước hoặc các vết thương hở trên da. Sau khoảng 1 đến 7 ngày bệnh nhân xuất hiện nốt dát sẩn sau đó chuyển màu đỏ tím rồi loét lớn trên vết loét có một vảy cứng màu đen trên bề mặt, xung quanh vết loét phù nề và nổi hạch to gần vết loét. Vết loét thường xuất hiện ở vùng da hở như cổ mặt, tay chân.

  • Bệnh than nhiễm qua đường hô hấp

Đây chính là thể bệnh hiếm gặp nhưng lại nguy hiểm nhất của bệnh than. Sau khi hít phải bào tử khoảng 1 đến 5 ngày cá biệt có những trường hợp sau 2 tháng, bệnh nhân có biểu hiện sốt, đau ngực, ho, khó thở, nôn mửa, đau bụng, chóng mặt, toát mồ hôi, vô cùng mệt mỏi… và nhanh chóng dẫn đến tử vong.

  • Bệnh than nhiễm qua đường tiêu hóa

Có khoảng 0,5-0,7% bệnh nhân mắc bệnh than gặp phải thể bệnh này. Sau khi ăn thịt sống hoặc chưa chín kỹ từ những gia súc mắc bệnh than bệnh nhân từ 1 đến 7 ngày bệnh nhân xuất hiện biểu hiện đau bụng, nôn, tiêu chảy.

7.VÌ SAO BỆNH THAN LẠI NGUY HIỂM?

Bệnh than được xem là đặc biệt nguy hiểm khi người bệnh mắc phải thể bệnh than nhiễm qua đường hô hấp. Sau khi có các biểu hiện hô hấp bệnh nhanh chóng chuyển sang nhiễm trùng nhiễm độc toàn thân với biểu hiện nhiễm trùng máu, viêm màng não và khiến bệnh nhân tử vong. Tỷ lệ tử vong ở thể bệnh này rất cao, lên đến 90%. Trong trường hợp được điều trị tích cực, chỉ có khoảng 55% bệnh nhân khỏi bệnh. Ngoài ra thể bệnh nhiễm qua da và qua đường tiêu hóa nếu không được điều trị kháng sinh đúng và kịp thời cuối cùng bệnh đều có thể lan ra khắp cơ thể dẫn tới nhiễm trùng nhiễm độc toàn thân và tử vong.

Một điểm nữa khiến bệnh than trở nên nguy hiểm chính là bào tử của vi khuẩn gây bệnh than có khả năng sinh tồn rất cao, nó có thể tồn tại rất lâu trong điều kiện tự nhiên, thậm chí là vài chục năm trước khi xâm nhập vật chủ, tái kích hoạt và sinh sôi. Một lượng nhỏ vi khuẩn bệnh than bằng móng tay cũng có khả năng làm hơn 10.000 người thiệt mạng.

8.BỆNH THAN CÓ THỂ SỬ DỤNG LÀM VŨ KHÍ KHỦNG BỐ SINH HỌC LÀ NHƯ THẾ NÀO?

Các bào tử vi khuẩn than có thể được tìm thấy dễ dàng trong tự nhiên, có thể được sản xuất trong một phòng thí nghiệm và có thể tồn tại một thời gian dài trong môi trường, chúng có thể được trộn vào bột, thuốc xịt, thực phẩm và nước sau đó có thể sử dụng. Một cuộc tấn công bằng bào tử bệnh than có thể được thực hiện bằng cách đặt vào các lá thư và gửi đi, trộn vào thực phẩm, nước uống hoặc thả vào không khí. Khi con người hít phải bào tử này bệnh nhân có thể bị bệnh than nhiễm qua đường hô hấp là dạng bệnh nguy hiểm nhất và có thể gây tử vong nhanh chóng. Chỉ cần một lượng mầm bệnh nhỏ để làm cho mọt lượng lớn người nhiễm bệnh. Các cuộc tấn công bằng bào tử bệnh than đã từng xảy ra và gây tử vong hàng loạt cũng như ảnh hưởng đến nền kinh tế, cơ sở hạ tầng và niềm tin của cộng đồng.

9.BỆNH THAN CÓ ĐIỀU TRỊ ĐƯỢC KHÔNG?

Bệnh than có thể điều trị được nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, trường hợp bệnh nhân bị bệnh do nhiễm qua đường hô hấp thì việc điều trị sẽ khó khăn hơn.

10.CÁCH PHÒNG TRÁNH BỆNH THAN:

  • Nên tiến hành tiêm vắc-xin phòng bệnh thancho súc vật nhằm giảm thiểu nguy cơ bùng phát bệnh.
  • Hiện nay đã có vắc-xin phòng bệnh thancho con người, tuy nhiên vắc-xin này có số lượng giới hạn và thường chỉ tiêm cho các quân nhân phục vụ chiến đấu hoặc những người có đặc thù nghề nghiệp tiếp xúc nhiều với súc vật hay sản phẩm chứa nhiều vi khuẩn.
  • Những động vật chết vì bệnh thancần được tiêu hủy đúng cách, sau khi chôn sâu xác động vật nên rải bột vôi kín để tẩy uế và ngăn ngừa sự lan rộng của vi khuẩn.
  • Không buôn bán và sử dụng da của những súc vật nhiễm bệnh than. Không ăn thịt khi nghi ngờ súc vật đó chết vì bệnh than.
  • Đảm bảo an toàn thực phẩm, ăn chín uống sôi. Giữ vệ sinh cơ thể sạch sẽ, chăm sóc và lưu ý đến các vết xước hoặc vết thương hở trên da.

Bài viết tham khảo nguồn: Cdc.gov

VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP DO VIRUS HỢP BÀO HÔ HẤP

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Khoa Nhi – Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Số điện thoại khoa: 0961.265.488

1.TỔNG QUAN:

  • Virus hợp bào hô hấp (Respiratory Syncytial Virus – RSV) thuộc họ Paramyxoviridae, giống Pneumovirus, có vật chất di truyền ở dạng RNA. Mầm bệnh có ái lực đặc biệt với biểu mô của đường hô hấp.
  • Nhiễm RSV tự nhiên chỉ tạo đáp ứng MD kém ở trẻ <18 tháng tuổi.
  • Khoảng 80 – 90% trẻ nhiễm RSV trong 2 năm đầu đời.
  • RSV là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
  • RSV là nguyên nhân của 60-80% ca VTPQ, 40% viêm phổi, 10-30% viêm khí phế quản, 2-10% viêm thanh khí phế quản ở trẻ em
  • RSV thường không gây bệnh nặng ở người lớn và trẻ em khỏe mạnh
  • RSV lây lan qua các giọt nhỏ trong không khí và tiếp xúc trực tiếp với người mang mầm bệnh
  • Virut thường tồn tại trong đường hô hấp của các người bệnh và người lành 2 tuần, ở người suy giảm miễn dịch có thể tổn tại 6 tháng.

2.DẤU HIỆU LÂM SÀNG:

Các triệu chứng của nhiễm RSV cũng tương tự như các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp khác.

  • Sổ mũi, nghẹt mũi, ho
  • Sốt
  • Mệt mỏi; Khó chịu hoặc cáu kỉnh (ở trẻ sơ sinh).
  • Thở nhanh, co kéo cơ hô hấp.
  • Biểu hiện thiếu ôxy : trẻ vật vã, tím tái quanh môi và các đầu chi.
  • Lồng ngực căng phồng, thông khí phổi giảm, ran rít, ran ẩm.
  • Các bộ phận khác : gan to, mạch nhanh,…

3.CẬN LÂM SÀNG:

  • Công thức máu: không đặc hiệu, có thể có tăng bạch cầu lympho.
  • X-quang phổi
  • Phổi ứ khí, cơ hoành hạ thấp.
  • Biểu hiện mờ các tiểu phế quản
  • Đôi khi có biểu hiện xẹp cục bộ các phân thuỳ. Có khi xẹp cả phân thuỳ phổi do bít tắc.
  • Phân tích khí máu, chỉ cần làm với thể nặng.
  • Xét nghiệm virus: kháng nguyên vi rút hợp bào hô hấp (RSV) dịch mũi.

4.ĐIỀU TRỊ:

  • Nguyên tắc điều trị cơ bản: điều trị nâng đỡ nhằm bảo đảm ổn định tình trạng bệnh nhân, oxy hóa máu đầy đủ, cung cấp đủ nước.
  • Kháng sinh khi nhiễm khuẩn thứ phát xảy ra.
  • Thuốc giãn phế quản không có hiệu quả đồng nhất, nhưng một số trường hợp trẻ có thể đáp ứng với sự cải thiện trong thời gian ngắn.
  • Thuốc kháng vi-rút: Ribavirin,: hiệu quả chưa được ghi nhận, khuyến nghị ở trẻ bị ức chế miễn dịch bị nhiễm RSV nặng.
  • Kháng thể đơn dòng được sử dụng để điều trị dự phòng RSV:

+ Nirsevimab

  • FDA chấp thuận sử dụng từ 07/2023
  • Phòng ngừa VHHD do RSV ở trẻ <24 th
  • WHO khuyến cáo tiêm 1 liều duy nhất trong ít nhất 6 tháng đầu sau sinh

+ Palivizumab

  • Không phòng ngừa được nhiễm RSV
  • Không có lợi ích ĐT cho trẻ nhiễm RSV
  • Giảm độ nặng lâm sàng, nguy cơ VHHD, nhập viện
  • Chỉ định cho trẻ sinh ≤ 35 tuần hay trẻ < 2 tuổi có bệnh đồng mắc đặc biệt, nguy cơ mắc bệnh nặng khi nhiễm RSV: trẻ sinh non (< 32 tuần tuổi thai), bệnh phổi mạn, bệnh tim bẩm sinh có ảnh hưởng quan trọng đến chức năng tim, bệnh mạn tính có ảnh hưởng đến bài tiết chất nhầy đường hô hấp
  • Cần tiêm 1 lần mỗi tháng trong mùa RSV
  • Palivizumab (15mg/kg/lần – tiêm bắp) (TC 5 liều).

Tài liệu tham khảo

  • Cập nhật chẩn đoán và điều trị virus hợp bào hô hấp (RSV) ở trẻ em- bệnh viện Nhi TW 2023
  • Phác đồ điều trị bệnh lý nhi khoa BYT
  • Bài giảng nhi khoa – đại học y Hà Nội
  • WHO (2017). Meeting report: Viruses. In Water Recreation and Disease. Plausibility of Associated Infections: Acute Effects, Sequelae and Mortality.