BỆNH VIÊM LOÉT ĐẠI TRÀNG
Bệnh viêm loét đại tràng gây ra hiện tượng viêm, loét và rối loạn chức năng của đại tràng với biểu hiện chủ yếu là đau bụng, tiêu chảy phân máu kèm theo sốt và sút cân, mất máu. Bệnh thường không được chẩn đoán và điều trị kịp thời nên có thể gây ra những biến chứng và hậu quả đáng tiếc.
Nguyên nhân gây bệnh
Nguyên nhân của bệnh đến nay cũng chưa được rõ, nhưng bệnh có liên quan tới quá trình đáp ứng miễn dịch. Bệnh lúc đầu có thể chỉ khu trú tại trực tràng, về sau lan dần lên trên, tổn thương có thể toàn bộ đại tràng, đôi khi có thể lan cả sang một phần của hồi tràng – đoạn cuối ruột non. Nam và nữ đều có thể mắc bệnh như nhau và thường gặp ở lứa tuổi 15-30 và 60-70 tuổi.
Ở người lớn, viêm loét đại tràng có thể là kết quả của nhiễm trùng, bệnh viêm ruột, viêm đại tràng vi thể, thiếu máu cục bộ, viêm do thuốc hoặc thứ phát do rối loạn suy giảm miễn dịch hoặc xạ trị.
– Nhiễm trùng: Nhiễm khuẩn bao gồm Campylobacter jejuni, Escherichia coli, Salmonella, Shigella và Clostridium difficile gây ra viêm đại tràng giả mạc. Ký sinh trùng như Entamoeba histolytica và virus như
– Bệnh viêm ruột: Bao gồm bệnh Crohn và viêm loét đại tràng.
– Viêm đại tràng vi thể: Tình trạng này là nguyên nhân tương đối phổ biến gây tiêu chảy mạn tính, đặc biệt ở người cao tuổi. Bệnh có liên quan đến các rối loạn tự miễn dịch như bệnh Celiac, tiểu đường loại 1, rối loạn chức năng tuyến giáp, bệnh vảy nến.
– Viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ: Xảy ra khi lượng máu cung cấp cho đại tràng giảm xuống dưới mức cần thiết cho nhu cầu chuyển hóa của đại tràng, dẫn đến loét niêm mạc đại tràng, viêm và xuất huyết.
– Viêm đại tràng do thuốc: Các loại thuốc như thuốc chống viêm không steroid, aspirin, thuốc ức chế bơm proton, thuốc đối kháng thụ thể H, thuốc chẹn Beta, thuốc ức chế miễn dịch, thuốc co mạch đều có thể gây viêm đại tràng.
– Do rối loạn suy giảm miễn dịch.
– Viêm đại tràng do lao (Mycobacterium tuberculosis).
– Viêm đại tràng do xạ trị: Có thể xảy ra do xạ trị vùng chậu đối với ung thư phần phụ ở tiểu khung, tiết niệu và trực tràng.
Campylobacter là một loại vi khuẩn khu trú tại ruột non, có tỷ lệ lây nhiễm cao. Campylobacter jejuni chủ yếu gây ra nhiễm trùng tại ruột non và thường được liên kết với trạng thái ngộ độc thực phẩm.
Viêm đại tràng giả mạc gây ra bởi Clostridium difficile trong đường tiêu hóa, sản sinh độc tố gây viêm, điển hình sau khi sử dụng kháng sinh.
Cytomegalovirus(CMV) là một loại virus phổ biến, có liên quan đến các loại virus gây bệnh thủy đậu, Herpes simplex và bệnh bạch cầu đơn nhân. Biểu hiện ở đường tiêu hóa là đau bụng, tiêu chảy. Những người có thể có hệ miễn dịch suy yếu bao gồm: Người cao tuổi, người mắc bệnh tiểu đường, suy thận, ung thư, ghép tạng, HIV/AIDS… nhiễm CMV có thể trở nên nghiêm trọng hoặc thậm chí gây tử vong.
Bệnh Crohn là bệnh viêm ruột mạn tính gây viêm đường tiêu hóa. Bệnh có thể ảnh hưởng đến bất kỳ phần nào của đường tiêu hóa, nhưng các vị trí tổn thương thường gặp nhất là hồi tràng, đại tràng và hậu môn. Bệnh Crohn có yếu tố di truyền , có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, thường gặp hơn ở người trong độ tuổi từ 15-35 tuổi.
Biểu hiện của bệnh viêm loét đại tràng
Tùy theo mức độ tổn thương mà bệnh có biểu hiện khác nhau. Trong trường hợp điển hình, bệnh nhân tiêu chảy nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nhày máu. Đau bụng là triệu trứng hay gặp. Thường gặp chán ăn, mệt mỏi, sụt cân không rõ nguyên nhân. Người bệnh đại tiện có máu nhiều lần trong ngày. Có cảm giác đau rát, buốt hậu môn và mót rặn. Cơ thể suy sụp với nhịp tim nhanh, huyết áp hạ, sốt cao, bụng trướng. Nếu không được điều trị thì tiến triển rất nặng, đưa đến tử vong do xuất huyết trầm trọng hoặc giãn đại tràng, nhiễm độc.
Bệnh nhân có thể sốt, thiếu máu, biểu hiện bằng: hoa mắt chóng mặt, có thể có phù chân do giảm protein máu khi mắc bệnh lâu ngày. Trong thể nặng có thể có biểu hiện mất nước: khát nước, môi khô, người hốc hác, thậm chí có triệu chứng sốc như mạch nhanh, huyết áp tụt, đau bụng dữ dội do viêm đại tràng nhiễm độc.
Chẩn đoán dựa vào các triệu chứng lâm sàng và các biểu hiện đặc trưng khi nội soi đại trực tràng kết hợp với sinh thiết. Để củng cố cho chẩn đoán xác định, bệnh nhân cần làm thêm một số xét nghiệm và kỹ thuật chẩn đoán như:
– Xét nghiệm phân tìm hồng cầu, bạch cầu. Soi tươi, nuôi cấy, phân lập vi khuẩn.
– Xét nghiệm máu: tìm biểu hiện viêm như bạch cầu tăng, tốc độ lắng máu (VS) tăng, chỉ số viêm (CRP) tăng, thiếu máu, albumin giảm (mất qua đường tiêu hóa ), rối loạn điện giải.
– Chụp Xquang bụng không chuẩn bị.
– Chụp Xquang khung đại tràng có thụt baryt.
– Siêu âm ổ bụng.
– Chụp cắt lớp ổ bụng, chụp cộng hưởng từ để phát hiện tổn thương (viêm loét, túi thừa, khối u, giãn, thủng đại trực tràng…).

Ca bệnh minh họa. Bệnh nhân N.T.L, 41 tuổi. Hình ảnh nội soi đại trực tràng phù nề, xung huyết, có nhiều ổ loét (A) / Bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết. Viêm dạ dày-ruột và đại tràng. Nhiễm Cytomegalovirus. Hình chụp CLVT ổ bụng có hình hơi nhỏ sát thành bụng trước (B) và vùng rốn gan, nghi thủng tạng rỗng. Bệnh nhân được phẫu thuật xác định ổ loét thủng đại tràng ngang, đã cắt đoạn đại tràng, làm hậu môn nhân tạo.
Biến chứng do viêm loét đại tràng
– Các biến chứng thường thấy là người bệnh bị suy kiệt, xuất huyết gây thiếu máu, sốc do nhiễm độc, có thể thủng đại tràng trong trường hợp nặng.
– Các biến chứng nhẹ của ruột là giả polyp, chỉ xảy ra trong 20% trường hợp, các biến chứng ít gặp hơn là nứt hậu môn, rò và áp-xe hậu môn.
– Các biến chứng nặng của viêm loét đại tràng là chảy máu trầm trọng, hẹp đại tràng, phình đại tràng nhiễm độc, thủng và lâu dài có thể đưa đến nguy cơ ung thư.
– Một số biến chứng khác như viêm đường mật, viêm khớp, viêm da mủ hoại thư, viêm xơ đường mật tiên phát, viêm thận bể thận, trong đợt cấp nặng của viêm loét đại trực tràng chảy máu lan rộng có thể có biến chứng đông máu rải rác nội mạch.
Điều trị
Điều trị viêm loét đại tràng phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng. Thường kết hợp phương pháp điều trị nội – ngoại khoa và các biện pháp cải thiện tình trạng viêm đại tràng. Ngoài ra, bệnh nhân cần thực hiện các chế độ dinh dưỡng tốt cho hệ tiêu hóa, tránh stress, không dùng các chất kích thích, uống đủ nước và khám sức khỏe định kỳ là những biện pháp giảm nguy cơ mắc bệnh.