Skip to main content
Liên hệ ngay với chúng tôi để được
tư vấn và đặt lịch khám sớm.
Email: bvnhietdoitw@nhtd.vnPhone: 0395.135.099
Đặt lịch khám
Hotline: 0395.135.099

BỆNH DO VI RÚT EBOLA VÀ MARBURG

Th10 23, 2026
21

Chuyên ngành: Bệnh Truyền nhiễm

Đối tượng tiếp cận: Bác sĩ lâm sàng, Bác sĩ Y tế dự phòng, Dược sĩ lâm sàng, Học viên sau đại học, Điều dưỡng chuyên khoa.

Tác giả: Ts.Bs. Khổng Minh Quang – Khoa Vi rút Ký sinh trùng – Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương

Người duyệt chuyên môn: Ths.BSCKII. Nguyễn Thanh Bình – Phó Trưởng khoa Vi rút Ký sinh trùng – Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương

  1. ĐẠI CƯƠNG

Vi rút Marburg và Ebola là các vi rút thuộc họ Filoviridae khác biệt nhau nhưng gây ra các bệnh cảnh lâm sàng tương tự nhau, đặc trưng bởi các cơn sốt xuất huyết nghiêm trọng, tình trạng thoát mao mạch và suy đa tạng. Bệnh do vi rút Ebola có độc tính và tỉ lệ tử vong cao hơn so với vi rút Marburg.

Loài vi rút Ebola (chi Ebolavirus) đã được phân loại thành 5 loài sinh học rõ rệt:

– Vi rút Zaire Ebola (Zaire ebolavirus): Tác nhân gây ra các đợt bùng phát dịch lớn nhất và có tỷ lệ tử vong cao nhất.

– Vi rút Sudan Ebola (Sudan ebolavirus): Tác nhân gây dịch sốt xuất huyết nghiêm trọng tại Đông Phi.

– Vi rút Ebola rừng Tai (Taï Forest ebolavirus, trước đây gọi là vi rút Ebola Côte d’Ivoire): Xuất phát từ khu bảo tồn rừng ở Côte d’Ivoire.

– Vi rút Bundibugyo Ebola (Bundibugyo ebolavirus): Gây ra các đợt bùng phát dịch lẻ tẻ tại Uganda và DRC.

– Vi rút Ebola Reston (Reston ebolavirus): Lưu hành tại Châu Á, ghi nhận ở động vật nhưng không gây bệnh ở người.

Hầu hết các đợt bùng phát nhiễm vi rút Marburg và vi rút Ebola đều bắt nguồn từ các khu vực nông thôn thuộc Trung và Tây Phi cận Sahara. Các đợt bùng phát mang tính chất hiếm gặp và lẻ tẻ; các đợt dịch này được ngăn chặn một phần vì xảy ra ở những khu vực địa lý cô lập. Khi có tình trạng lây lan sang các quốc gia hoặc châu lục khác, nguyên nhân chủ yếu là do du khách hoặc người lao động di chuyển từ vùng dịch Châu Phi trở về.

  1. CƠ CHẾ BỆNH SINH

2.1. Lịch sử dịch tễ bệnh

– Đợt đại dịch Tây Phi (2013 – 2016): Vào tháng 12 năm 2013, đợt bùng phát dịch lớn do vi rút Zaire Ebola khởi phát tại vùng nông thôn Guinea, sau đó nhanh chóng lan sang các khu đô thị đông dân cư và các quốc gia láng giềng như Liberia và Sierra Leone. Đã có hàng ngàn trường hợp mắc bệnh với tỉ lệ tử vong trung bình khoảng 59%. Những du khách bị nhiễm bệnh đã lây lan vi rút sang Nigeria, Châu Âu và Bắc Mỹ. Các trường hợp nhiễm bệnh tiếp tục diễn ra đến đầu năm 2016; Sierra Leone được tuyên bố hết dịch vào tháng 3/2016, Guinea vào tháng 5/2016 và Liberia vào tháng 6/2016.

– Các đợt bùng phát tại Cộng hòa Dân chủ Congo (DRC) (2017 – 2022): Nhiều đợt dịch Ebola liên tiếp xảy ra tại DRC trong giai đoạn 2017–2022 tại các tỉnh Bas Uélé, Équateur… Việc đưa hai loại vắc-xin Zaire Ebola vào sử dụng từ năm 2020 đã đóng vai trò then chốt giúp khống chế dịch.

– Bùng phát do vi rút Sudan Ebola tại Uganda (2022 – 2023): Vào tháng 9 năm 2022, Uganda ghi nhận ca nhiễm vi rút Sudan Ebola đầu tiên sau một thập kỷ. Đợt bùng phát này ghi nhận 142 trường hợp mắc với tỉ lệ tử vong lên tới 50%, và được tuyên bố kết thúc vào tháng 1 năm 2023.

– Cảnh báo Y tế khẩn cấp mới nhất của CDC Hoa Kỳ (Tháng 2/2025): Tháng 2 năm 2025, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) đã chính thức ban hành Thông báo Y tế khẩn cấp (Health Advisory) thuộc Mạng lưới Cảnh báo Sức khỏe về đợt bùng phát bệnh Ebola đã được xác nhận tại Uganda do chủng vi rút Sudan Ebola gây ra.

2.2. Đường lây truyền

– Truyền bệnh từ động vật sang người (Zoonosis): Hầu hết các trường hợp chỉ số liên quan đến việc tiếp xúc với động vật linh trưởng không phải người hoặc động vật hoang dã tại châu Phi cận Sahara. Mặc dù vật chủ tự nhiên chưa được xác định hoàn toàn, vi rút Marburg đã được phân lập ở loài dơi ăn quả (như Rousettus aegyptiacus); các ca nhiễm xảy ra ở người làm việc hoặc tham quan hang động/mỏ đá có dơi trú ngụ. Các đợt dịch Ebola thường bắt đầu từ việc tiêu thụ thịt động vật hoang dã (thịt rừng) hoặc ăn súp làm từ dơi, cũng như xử lý mô/máu từ động vật bị nhiễm bệnh.

– Truyền nhiễm giữa người với người: Các vi rút thuộc họ Filoviridae rất dễ lây qua tiếp xúc trực tiếp giữa da tổn thương hoặc niêm mạc màng nhày với các dịch cơ thể bị nhiễm (máu, nước bọt, chất nôn, nước tiểu, phân, mồ hôi, sữa mẹ, tinh dịch) của bệnh nhân đang có triệu chứng lâm sàng. Con người không lây nhiễm trong thời kỳ ủ bệnh cho đến khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên.

– Lây truyền qua nghi thức mai tang (aerosol): Các nghi thức tang lễ truyền thống (tắm rửa, khâm niệm, tiếp xúc trực tiếp với thi thể người chết do Ebola/Marburg) đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc bùng phát dịch. Lây truyền qua đường sol khí (aerosol) cực kỳ hiếm gặp trong tự nhiên nhưng có nguy cơ xảy ra trong các thủ thuật tạo khí dung y tế.

2.3. Sự tồn tại kéo dài của vi rút trong cơ thể

– Ở những bệnh nhân sống sót, đáp ứng miễn dịch hiệu quả sẽ giúp đào thải hoàn toàn vi rút khỏi máu và các cơ quan. Tuy nhiên, vi rút Ebola và Marburg có khả năng tồn tại dai dẳng tại các vị trí đặc quyền miễn dịch (immune-privileged sites) như: mắt (tiền phòng/màng bồ đào), hệ thần kinh trung ương và tinh hoàn.

– Lây truyền qua đường tinh dịch: Vi rút Marburg có thể tồn tại trong tinh dịch và lây truyền cho bạn tình trong vòng 7 tuần sau khi hồi phục lâm sàng. Đối với vi rút Ebola, vi rút tồn tại trong tinh dịch của 63% nam giới đã khỏi bệnh sau 1 năm. Đã ghi nhận trường hợp nam bệnh nhân truyền vi rút Ebola cho bạn tình qua đường quan hệ tình dục sau hơn 500 ngày (> 500 ngày) kể từ khi khởi phát triệu chứng.

2.4. Biến chứng

Vi rút tồn tại ở hệ thần kinh trung ương có thể tái hoạt động gây tái phát bệnh cảnh cấp tính. Người sống sót sau nhiễm Ebola thường gặp Hội chứng sau Ebola (Post-Ebola Syndrome) gồm: suy giảm nhận thức, rối loạn vận động do đau khớp kéo dài, đục thủy tinh thể nặng ở trẻ em và viêm màng bồ đào ở người trưởng thành.

  1. CĂN NGUYÊN VI SINH HỌC & PHÂN LOẠI CHỦNG

Họ vi rút Filoviridae gồm các vi rút dạng sợi (filamentous enveloped RNA viruses) có độc tính cực cao. Hai chi chính gây bệnh sốt xuất huyết ở người là Ebolavirus và Marburgvirus.

Chủng vi rút / Tác nhân Tên khoa học Vùng lưu hành / Đợt bùng phát Đặc điểm độc tính/ Tỉ lệ tử vong
Vi rút Zaire Ebola Zaire ebolavirus Guinea, Liberia, Sierra Leone, DRC Độc tính cao nhất; tỉ lệ tử vong 59% – 90%. Có vắc-xin & kháng thể đơn dòng.
Vi rút Sudan Ebola Sudan ebolavirus Uganda (2022, 2025), Sudan Tỉ lệ tử vong 50%. Không có bảo vệ chéo từ vắc-xin Zaire.
Vi rút Bundibugyo Ebola Bundibugyo ebolavirus Uganda, DRC Tỉ lệ tử vong trung bình (25% – 40%).
Vi rút Ebola rừng Tai Taï Forest ebolavirus Côte d’Ivoire (Tây Phi) Ghi nhận ca bệnh hiếm gặp từ động vật linh trưởng.
Vi rút Ebola Reston Reston ebolavirus Châu Á (Philippines, Trung Quốc) Nhiễm ở lợn/khỉ; KHÔNG gây bệnh lâm sàng ở người.
Vi rút Marburg Marburg marburgvirus Trung và Đông Phi (hang động/mỏ) Gây sốt xuất huyết nặng; tử vong 24% – 88%. Lây qua tinh dịch đến 7 tuần.
  1. TRIỆU CHỨNG VÀ DẤU HIỆU LÂM SÀNG

Triệu chứng lâm sàng nhiễm vi rút Marburg và vi rút Ebola rất giống nhau và khó phân biệt trên lâm sàng đơn thuần.

4.1. Triệu chứng

– Thời gian ủ bệnh: Kéo dài từ 2 ngày đến 21 ngày (trung bình 8 – 10 ngày). Bệnh nhân hoàn toàn không lây truyền trong giai đoạn này. Triệu chứng thường gặp bao gồm:

+ Sốt cấp tính

+ Đau đầu, đau mỏi cơ

+ Nôn/buồn nôn

+ Đau bụng

+ Tiêu chảy

+ Viêm kết mạc

– Khởi phát (Ngày thứ 2- đến ngày thứ 5)

+ Phát ban: Ban đầu ban nhú đỏ sẫm mầu như đinh ghim tập trung ở nang lông, sau hình thành nên tổn thương ban dát sẩn có ranh giới rõ và cuối cùng hợp thành ban lan tỏa, thường trong tuần đầu của bệnh.

+ Xuất hiện sốt cao đột ngột, đau cơ toàn thân, đau đầu dữ dội. Tiếp theo là đau bụng, buồn nôn, nôn và các triệu chứng đường hô hấp trên như ho, đau ngực, viêm họng. Các dấu hiệu đi kèm gồm sợ ánh sáng, viêm kết mạc mạc mắt, vàng da và phì đại hạch cổ/nách.

– Toàn phát:

+ Bệnh nhân bị nôn ói và tiêu chảy xối xả. Biểu hiện thần kinh trung ương tiến triển gồm mê sảng, lú lẫn, mất định hướng và hôn sâu.

+ Biểu hiện xuất huyết xuất hiện trong vài ngày đầu với chấm xuất huyết dưới da, vết bầm máu, rỉ máu liên tục tại vị trí tiêm truyền tĩnh mạch và chảy máu bề mặt niêm mạc (chảy máu cam, chảy máu lợi, nôn ra máu, đi ngoài phân đen).

4.2. Rối loạn thể tích, điện giải và suy đa cơ quan

Tình trạng giảm thể tích tuần hoàn nặng tiến triển do hai cơ chế chính:

– Mất dịch cấp tính qua đường tiêu hóa do tiêu chảy nặng và nôn ói liên tục.

– Hội chứng thoát dịch mao mạch (capillary leak syndrome) dẫn đến giảm albumin máu nặng và thoát huyết tương từ lòng mạch vào khoang gian bào.

Rối loạn điện giải trầm trọng bao gồm: hạ natri máu nặng, hạ kali máu và hạ calci máu. Các rối loạn này là nguyên nhân chính dẫn đến rối loạn nhịp tim nguy hiểm và trụy tim mạch.

Trong tuần thứ hai của bệnh, bệnh nhân đứng trước hai ngã rẽ: hoặc hạ sốt và bắt đầu hồi phục chậm, hoặc tiến triển suy đa cơ quan, sốc nhiễm khuẩn và tử vong. Tỉ lệ tử vong ca bệnh (CFR) dao động từ 25% đến 90%.

4.3. Các xét nghiệm cận lâm sàng

– Công thức máu: thường có giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu

– Hóa sinh máu: tăng AST, ALT. Creatinin máu và ure có thể tăng trong thời gian tiến triển của bệnh

– Đông máu: rối loạn đông máu nội quản rải rác

– Xét nghiệm nước tiểu: protein niệu

– Xét nghiệm phát hiện căn nguyên:

+ Test nhanh tìm kháng nguyên virut – Ebola, Kháng thể, để sàng lọc ca bệnh.

+ RT- PCR (tiêu chuẩn vàng) Để khảng định ca bệnh.

+ Giải trình tự gen và nuôi cấy vi rút tại phòng an toàn sinh học cấp III, IV. Bệnh phẩm sử dụng để chẩn đoán là máu được bảo quản trong môi trường vận chuyển và tuân theo quy định an toàn vận chuyển vi rút lây truyền qua đường máu. Và tuân thủ quy định được ban hành Hướng dẫn giám sát, phòng chống bệnh do virut Ebola của Bộ Y tế.

– Các xét nghiệm chẩn đoán phân biệt và xét nghiệm chẩn đoán nhiễm trùng thứ phát: CRP, pro-calcitonin, nuôi cấy vi khuẩn

– Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh: Đánh giá tổn thương cơ quan đích

  1. CHẨN ĐOÁN

5.1. Dịch tễ

– Nghi ngờ nhiễm vi rút Marburg hoặc Ebola ở tất cả các bệnh nhân có biểu hiện sốt, xu hướng xuất huyết, các triệu chứng sớm tương thích và có tiền sử di chuyển trở về từ các vùng dịch lưu hành trong vòng 21 ngày. Đánh giá lâm sàng tuân thủ theo các Hướng dẫn ban hành của CDC Hoa Kỳ (Cập nhật ngày 13/05/2024 và 30/01/2025). Với các dấu hiệu như:

+ Tiếp xúc với máu hay dịch cơ thể của bệnh nhân được xác định hoặc nghi nhiễm Ebola

+ Sống hay đi tới vùng dịch Ebola đang lưu hành

+ Trực tiếp xử lý, tiếp xúc với dơi, chuột hoặc động vật linh trưởng từ các vùng dịch tễ

– Có biểu hiện lâm sàng của bệnh

5.2. Tiêu chuẩn vàng xét nghiệm cận lâm sàng của bệnh

– Xét nghiệm thường quy: Công thức máu (giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu nặng), sinh hóa máu (tăng men gan AST/ALT, tăng urea/creatinine, hạ albumin, rối loạn điện giải Na/K/Ca), xét nghiệm đông máu (PT/APTT kéo dài, Fibrinogen giảm) và tổng phân tích nước tiểu.

– Xét nghiệm chẩn đoán xác định: Thực hiện kỹ thuật miễn dịch gắn enzym (ELISA) phát hiện kháng nguyên/kháng thể và xét nghiệm phản ứng chuỗi Polymerase phiên mã ngược (RT-PCR) để xác định ARN vi rút.

– Tiêu chuẩn vàng (Gold Standard): Phát hiện các hạt vi rút (virion) hình sợi đặc trưng dưới kính hiển vi điện tử (electron microscopy) từ mẫu mô bị nhiễm (đặc biệt là sinh thiết gan) hoặc mẫu máu toàn phần.

5.3. Ca bệnh xác định

Là ca bệnh nghi ngờ và được khẳng định bằng xét nghiệm PCR dương tính.

5.4. Chẩn đoán phân biệt

Bệnh do vi rút Ebola cần phải phân biệt với:
– Sốt xuất huyết Dengue
– Bệnh do Streptococcus suis
– Nhiễm trùng huyết do não mô cầu
– Nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn
– Leptospira
– Sốt rét

  1. ĐIỀU TRỊ

6.1. Nguyên tắc điều trị

– Không có điều trị đặc hiệu, chủ yếu là điều trị hỗ trợ. Hiện mới chỉ có kháng thể đơn dòng điều trị đặc hiệu cho Ebola Zaire. Còn các loài khác thì chưa mà chủ yếu điều trị hỗ trợ làm giảm các triệu chứng.

– Các ca bệnh nghi ngờ đều phải được khám tại bệnh viện, cách ly và lấy mẫu bệnh phẩm gửi làm xét nghiệm đặc hiệu để chẩn đoán bệnh. Các ca bệnh xác định cần phải nhập viện điều trị và cách ly hoàn toàn.

6.2. Điều trị hỗ trợ

Chăm sóc hỗ trợ là nền tảng sống còn trong quản lý bệnh sốt xuất huyết do Filovirus bao gồm:

– Duy trì bù thể tích tuần hoàn và điều chỉnh nghiêm ngặt cân bằng điện giải (truyền tĩnh mạch dung dịch đẳng trương, bổ sung Na+, K+, Ca2+).

Triệu chứng Xử trí
Sốt > 38oC – Hạ nhiệt bằng Paracetamol: 10-15mg/kg cân nặng mỗi 4-6 giờ, không quá 60mg/kg cân nặng/ngày

– Tránh dùng các NSAIDs (Diclofenac, Ibupropen…) hoặc thuốc nhóm Salicylate vì làm nặng rối loạn đông máu

Đau – Giảm đau bằng Paracetamol (nếu mức độ nhẹ) hoặc Morphin (nếu mức độ trung bình hoặc nặng)

– Tránh dùng các NSAIDs (Diclofenac, Ibupropen,) hoặc thuốc nhóm Salicylate vì làm nặng rối loạn đông máu

Tiêu chảy, nôn, có dấu hiệu mất nước – Cho uống Oresol ngay cả khi không có dấu hiệu mất nước

– Theo dõi sát các dấu hiệu mất nước và bù dịch tương ứng theo phác đồ

– Buồn nôn và nôn rất thường gặp. Các thuốc chống nôn có thể làm giảm triệu chứng và giúp bệnh nhân uống được Oresol. Đối với người lớn: Chlorpromazine 25-50mg, tiêm bắp 4 lần/ngày hoặc Metoclopramide 10mg, tiêm tĩnh mạch/uống 3 lần/ngày đến khi bệnh nhân hết nôn. Đối với trẻ em trên 2 tuổi: dùng Promethazine, chú ý theo dõi các dấu hiệu ngoại tháp

Co giật – Dùng Diazepam để cắt cơn giật, người lớn: 20mg, trẻ em: 0,1-0,3mg/kg, tiêm tĩnh mạch chậm. Sau đó khống chế cơn giật bằng Phenobacbital, người lớn: 10mg/kg, trẻ em: 10-15mg/kg, truyền tĩnh mạch chậm trong 15 phút
Dấu hiệu của chảy máu cấp/tái nhợt mức độ trung bình đến nặng/các dấu hiệu cấp cứu của sốc giảm khối lượng tuần hoàn -Truyền máu và các chế phẩm của máu.
Sốc, suy đa tạng (nếu có) – Đảm bảo khối lượng tuần hoàn, cân bằng dịch, duy trì huyết áp, lợi tiểu

– Lọc máu, hỗ trợ ECMO khi có chỉ định

– Truyền thay thế các yếu tố đông máu bị suy giảm (huyết tương tươi đông lạnh, tiểu cầu, fibrinogen).

– Giảm thiểu tối đa các thủ thuật xâm lấn nguy cơ gây chảy máu.

– Điều trị triệu chứng toàn diện, bao gồm sử dụng thuốc giảm đau phù hợp.

6.3. Kháng thể đơn dòng điều trị đặc hiệu

Chỉ có tác dụng trên Zaire ebolavirus

Thông tin INMAZEB (Hỗn hợp 3 kháng thể) EBANGA (1 kháng thể đơn lẻ)
Thành phần hoạt chất Atoltivimab, Maftivimab và Odesivimab-ebgn. Ansuvimab-zykl.
Chỉ định Điều trị nhiễm Zaire ebolavirus ở người lớn và trẻ em (bao gồm cả trẻ sơ sinh được sinh ra từ mẹ có kết quả xét nghiệm RT-PCR dương tính với Zaire ebolavirus).
Liều dung 50 mg/kg cho mỗi loại kháng thể (tức là 50 mg/kg atoltivimab, 50 mg/kg maftivimab, 50 mg/kg odesivimab). Truyền tĩnh mạch liều duy nhất. 50 mg/kg truyền tĩnh mạch liều duy nhất.
Tác dụng phụ thường gặp (ADRs Sốt, ớn lạnh, nhịp tim nhanh, nhịp thở nhanh, nôn mửa. Sốt, nhịp tim nhanh, tiêu chảy, nôn mửa, hạ huyết áp, thở nhanh, ớn lạnh.
Chống chỉ định Không có chống chỉ định (Do tỷ lệ tử vong của bệnh quá cao, lợi ích cứu mạng người bệnh vượt qua mọi rủi ro có thể xảy ra). Lưu ý phản ứng quá mẫn với thuốc.
Lưu ý Không sử dụng đồng thời các kháng thể đơn dòng này với vắc-xin sống giảm độc lực phòng Ebola (như vắc-xin Ervebo).

6.4. Lưu ý với một số nhóm bệnh nhân

– Phụ nữ mang thai: có nguy cơ sảy thai/đẻ non, chảy máu sau sinh rất cao. Việc chỉ định dùng oxytocin và các can thiệp sau sinh cần tuân thủ đúng các hướng dẫn nhằm giúp bệnh nhân cầm máu.

– Phụ nữ cho con bú: vi rút Ebola có thể truyền qua sữa mẹ. Khi nghi ngờ mẹ bị nhiễm bệnh, mẹ và trẻ cần được nhập viện và cách ly cho đến khi loại trừ nhiễm bệnh. Mẹ nên ngừng cho con bú.

– Trẻ em: ưu tiên bù dịch đường uống, điều chỉnh liều thuốc theo cân nặng, chú ý hạ đường huyết và hạ thân nhiệt.

– Người cao tuổi, suy giảm miễn dịch: nguy cơ tiến triển nặng nhanh, cần theo dõi sát.

6.5. Tiêu chuẩn xuất viện

Bệnh nhân được xuất viện khi:

-Trên 3 ngày không sốt và không có các dấu hiệu gợi ý có sự đào thải vi rút ra môi trường như: đi ngoài phân lỏng, ho, chảy máu.

– Các triệu chứng lâm sàng cải thiện tốt, tình trạng bệnh nhân ổn định, có thể tự thực hiện các hoạt động thường ngày.

– Trong trường hợp làm được xét nghiệm:

+ Kết quả PCR vi rút Ebola âm tính (từ ngày thứ 3 trở đi kể từ khi khởi phát).

+ Nếu xét nghiệm PCR vi rút Ebola âm tính 2 lần liên tiếp, làm cách nhau tối thiểu 48 giờ, trong đó có ít nhất 1 xét nghiệm làm vào ngày thứ 3 trở đi kể từ khi khởi phát mà các triệu chứng lâm sàng không cải thiện, có thể chuyển bệnh nhân ra khỏi khu vực cách ly để tiếp tục chăm sóc.

– Bệnh viện thông báo CDC địa phương để quản lý các trường hợp sau xuất viện.

  1. Phòng lây nhiễm virus Ebola

7.1. Nguyên tắc

– Thực hiện sàng lọc, điều tra dịch tễ, cách ly tại cơ sở y tế ngay khi nghi ngờ nhiễm bệnh. Không cách ly và điều trị tại nhà đối với tất cả các ca bệnh nghi ngờ hoặc xác định.

– Thực hiện các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn nghiêm ngặt.

– Tại các cơ sở y tế phải thực hiện các phương pháp phòng ngừa chuẩn và phòng ngừa theo đường lây.

– Thực hiện khai báo, thông tin, báo cáo ca bệnh theo hướng dẫn tại Thông tư số 1505/2026/TT-BYT ngày 25/05/2026 của Bộ Y tế.

7.2. Đối với người bệnh

– Cách ly, điều trị tại cơ sở y tế theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

– Sử dụng trang bị phòng hộ cá nhân đúng để hạn chế lây truyền bệnh.

– Hạn chế tiếp xúc, vận chuyển bệnh nhân, trong trường hợp cần vận chuyển phải sử dụng trang bị phòng hộ cá nhân và xe chuyên dụng. Các vật dụng bị ô nhiễm, đồ thải bỏ và chất thải của bệnh nhân cần phải khử trùng và xử lý theo quy định.

– Vi rút Ebola tiếp tục được bài tiết qua tinh dịch và sữa mẹ vì vậy cần tư vấn cho bệnh nhân cách phòng tránh lây truyền sau khi xuất viện.

– Xử lý tử thi theo quy định bệnh truyền nhiễm nhóm A trong hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động mai táng và hỏa tang do Bộ Y tế ban hành.

7.3. Đối với người tiếp xúc gần

– Người tiếp xúc gần là người có tiếp xúc với ca bệnh nghi ngờ hoặc xác định với các cách sau đây:

+ Ở cùng nhà;

+ Tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết, vật dụng, cơ thể hoặc thi thể người bệnh;

+ Trẻ em bú sữa mẹ từ người mẹ là ca bệnh nghi ngờ/xác định;

+ Nhân viên y tế phơi nhiễm trong quá trình chăm sóc người bệnh hoặc làm xét nghiệm.

 – Người chăm sóc người bệnh phải thực hiện các biện pháp phòng hộ cá nhân (khẩu trang N95, kính đeo bảo hộ mắt, mũ, găng tay, bao giày, quần áo) rửa tay ngay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn khác sau mỗi lần tiếp xúc với người bệnh.

– Hạn chế tối đa việc tiếp xúc với người khác.

– Thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, sử dụng các thuốc sát khuẩn đường mũi họng.

– Lập danh sách những người tiếp xúc gần và theo dõi tình trạng sức khỏe trong vòng 21 ngày kể từ khi tiếp xúc lần cuối. Tư vấn cho người tiếp xúc về các dấu hiệu bệnh và các biện pháp phòng, chống để tự phòng bệnh, theo dõi, phát hiện sớm các triệu chứng của bệnh. Nếu xuất hiện các triệu chứng của bệnh cần thông báo ngay cho cơ sở y tế gần nhất để được cách ly, chẩn đoán, điều trị kịp thời.

– Người tiếp xúc gần không được cho sữa; hiến máu, mô, tạng, tinh dịch trong vòng 21 ngày kể từ lần tiếp xúc cuối.

7.4. Phòng chống lây nhiễm tại các cơ sở điều trị

– Thực hiện nghiêm ngặt việc phân luồng khám, cách ly và điều trị bệnh nhân, các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn, trang bị phòng hộ cá nhân cho cán bộ y tế, người chăm sóc bệnh nhân và bệnh nhân khác tại các cơ sở điều trị bệnh nhân theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

– Tuân thủ quy trình xử lý môi trường, chất thải theo quy định như đối với khu vực cách ly các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây dịch khác.

7.5. Vắc-xin phòng bệnh đặc hiệu

Năm 2019, FDA Mỹ và WHO chính thức phê duyệt vắc-xin Ervebo (rVSV ZEBOV), trong phòng ngừa lây nhiễm loài Zaire ebolavirus. Các loài khác chưa có vắc xin phù hợp tính đến thời điểm hiện tại.

7.6. Xử lý tử thi

 Thi thể người bệnh tử vong do Ebola có tính lây nhiễm rất cao. Vì vậy cần xử lý tử thi bằng hỏa táng theo hướng dẫn tại Thông tư số 21/2021/TT-BYT ngày 26/11/2021 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHUNG

  1. Centers for Disease Control and Prevention: Ebola: 2017 Democratic Republic of the Congo, Bas Uélé District. 2017.
  2. World Health Organization (WHO): New Ebola outbreak declared in Democratic Republic of the Congo, May 2018.
  3. World Health Organization: Ebola virus disease – Democratic Republic of the Congo, December 2021
  4. World Health Organization: Ebola outbreak 2022 – Équateur Province, DRC
  5. World Health Organization: Ebola Virus Disease –Democratic Republic of the Congo, September 2022
  6. Centers for Disease Control and Prevention: Ebola: 2020 Democratic Republic of the Congo, Equateur Province.
  7. Centers for Disease Control and Prevention: Health Advisory Ebola Outbreak
  8. World Health Organization: Ebola disease caused by Sudan ebolavirus – Uganda
  9. World Health Organization: Fact Sheet: Marburg virus disease. Ngày 15 tháng 2 năm 2018.
  10. Bausch DG, Crozier I: The Liberia Men’s Health Screening Program for Ebola virus: Win-win-win for survivor, scientist, and public health. Lancet Glob Health 4 (10): e672–673, 2016. doi: 10.1016/S2214-109X (16)30207-8
  11. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh Ebola quyết định số 1505 ngày 25 tháng 5 năm 2026 của Bộ Y tế
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận