Skip to main content
Liên hệ ngay với chúng tôi để được
tư vấn và đặt lịch khám sớm.
Email: bvnhietdoitw@nhtd.vnPhone: 0395.135.099
Đặt lịch khám
Hotline: 0395.135.099

Danh mục loại bệnh: Tạo hình - Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa

ĐẶT TÚI NGỰC 2 LẦN, VẾT THƯƠNG NHIỀU TUẦN KHÔNG LIỀN: BÁC SĨ NGHI NHIỄM VI KHUẨN HIẾM GẶP

Sau phẫu thuật đặt túi ngực, người phụ nữ 38 tuổi liên tục chảy dịch, vết thương không liền dù túi ngực đã được tháo bỏ nhiều tuần. Các bác sĩ nghi ngờ nhiễm NTM – nhóm vi khuẩn có thể gây nhiễm trùng dai dẳng và khó điều trị sau phẫu thuật, thủ thuật thẩm mỹ.

Chị L. T.L., 38 tuổi, ở Thanh Hóa, từng đặt túi ngực tại một cơ sở y tế khoảng 9 tháng trước. Sau phẫu thuật, người bệnh xuất hiện nhiễm trùng, phải tháo túi và điều trị trong thời gian dài.

Khoảng 6–7 tuần trước khi đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, do vẫn có nhu cầu thẩm mỹ, chị tiếp tục đặt lại túi ngực lần 2. Chỉ 1–2 tuần sau phẫu thuật, vùng can thiệp bắt đầu chảy dịch, chảy mủ. Người bệnh quay lại cơ sở thực hiện phẫu thuật, được tháo túi, làm sạch tổn thương, sử dụng kháng sinh và chăm sóc vết thương. Tuy nhiên, sau 2–3 tuần tháo túi, vết thương vẫn không liền, liên tục tiết dịch. Tình trạng kéo dài khiến người bệnh đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương để được đánh giá chuyên sâu.

Tại Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, ThS.BS Nguyễn Ngọc Linh nhận thấy tổn thương có nhiều điểm không giống nhiễm trùng vết mổ thông thường. Dịch tiết nhầy, dạng gel, kéo dài; khoang từng đặt túi ngực vẫn không liền dù vật liệu nhân tạo đã được tháo bỏ nhiều tuần. Với tiền sử nhiễm trùng sau lần đặt túi trước đó và đặc điểm tổn thương bất thường, các bác sĩ nghĩ đến khả năng nhiễm NTM (Non-Tuberculous Mycobacteria – Mycobacteria không điển hình). NTM là nhóm vi khuẩn tồn tại tự nhiên trong môi trường. Một số loài có thể gây nhiễm trùng da và mô mềm, trong đó có những trường hợp liên quan đến thủ thuật xâm lấn hoặc phẫu thuật có sử dụng vật liệu nhân tạo.

Điểm đáng lưu ý là nhiễm NTM có thể diễn biến âm thầm, kéo dài và không điển hình. Người bệnh có thể chỉ biểu hiện bằng vết thương lâu liền, rỉ dịch kéo dài, xuất hiện ổ áp xe hoặc tổn thương tái phát. Vi khuẩn cũng có thể không đáp ứng với các kháng sinh thường dùng cho nhiễm khuẩn vết mổ, khiến việc điều trị gặp nhiều khó khăn nếu không xác định đúng tác nhân.

Tại bệnh viện, khi kiểm tra khoang từng đặt túi, các bác sĩ phát hiện vẫn còn một ổ áp xe nhỏ, hai bề mặt mô chưa liền lại. Ê-kíp tiến hành mở và làm sạch ổ tổn thương, loại bỏ tổ chức viêm, đồng thời áp dụng liệu pháp hút áp lực âm (VAC) để kiểm soát dịch và hỗ trợ quá trình liền thương. Chỉ trong khoảng một tuần, hệ thống đã hút ra hơn 500 ml dịch từ vùng tổn thương. Song song với xử trí ngoại khoa, các bác sĩ lấy bệnh phẩm để xác định tác nhân, từ đó lựa chọn phương án điều trị phù hợp.

Theo ThS.BS Nguyễn Ngọc Linh, với những trường hợp nghi ngờ hoặc xác định nhiễm NTM, việc điều trị không chỉ dừng lại ở làm sạch vết thương. Người bệnh có thể cần phối hợp kiểm soát ổ nhiễm tại chỗ với điều trị thuốc kháng NTM kéo dài có thể nhiều tháng.

“Vết thương liền bên ngoài chưa đồng nghĩa với việc nhiễm trùng đã được kiểm soát hoàn toàn. Nếu tác nhân vẫn còn tồn tại trong mô, tổn thương có thể tái phát”, BS Linh lưu ý.

Tạo hình – thẩm mỹ gắn với chuyên môn kiểm soát nhiễm trùng

Theo TS.BS Dương Mạnh Chiến – Phó Trưởng Khoa, phụ trách Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, các biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật thẩm mỹ không chỉ đòi hỏi kỹ thuật xử trí tổn thương mà còn cần khả năng nhận diện chính xác căn nguyên, đặc biệt với những trường hợp kéo dài hoặc không đáp ứng với điều trị thông thường.

Đây cũng là lợi thế của Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương: bên cạnh năng lực chuyên môn về phẫu thuật tạo hình, thẩm mỹ và xử trí các biến chứng ngoại khoa, người bệnh được tiếp cận với hệ thống chuyên môn sâu về bệnh truyền nhiễm và nhiễm khuẩn. Nhờ đó, các dịch vụ thẩm mỹ được thực hiện tại Bệnh viện với quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn nghiêm ngặt. Ngoài ra đây cũng là nơi chuyên điều trị các trường hợp biến chứng nhiễm trùng phức tạp sau phẫu thuật thẩm mỹ với cách tiếp cận toàn diện, từ nhận diện căn nguyên, lấy bệnh phẩm xét nghiệm, kiểm soát ổ nhiễm, xử trí vết thương đến điều trị nhiễm trùng và phục hồi tổn thương.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa với những trường hợp nhiễm trùng liên quan đến vật liệu nhân tạo, khi việc điều trị có thể kéo dài và cần phối hợp nhiều chuyên khoa, nhiều phương pháp khác nhau.

TS.BS Dương Mạnh Chiến khuyến cáo, người dân có nhu cầu phẫu thuật thẩm mỹ, đặc biệt là các can thiệp có đặt túi độn hoặc vật liệu nhân tạo, cần lựa chọn cơ sở y tế chuyên khoa được cấp phép, có đầy đủ điều kiện phẫu thuật, vô khuẩn, gây mê – hồi sức và có khả năng theo dõi, xử trí biến chứng sau phẫu thuật.

Sau phẫu thuật, nếu vết thương lâu liền, liên tục rỉ dịch hoặc mủ, xuất hiện ổ áp xe, tái phát nhiều lần hoặc không cải thiện dù đã sử dụng kháng sinh, người bệnh cần đến cơ sở y tế có chuyên môn phù hợp để được thăm khám, xác định nguyên nhân và điều trị đúng hướng, thay vì tự điều trị hoặc kéo dài việc sử dụng thuốc theo kinh nghiệm.

“Làm đẹp không chỉ là đạt được kết quả về hình thể mà trước hết phải bảo đảm an toàn cho người bệnh. Lựa chọn cơ sở y tế có đầy đủ năng lực chuyên môn ngay từ đầu sẽ giúp giảm nguy cơ biến chứng và có phương án xử trí kịp thời nếu không may xảy ra”, TS.BS Dương Mạnh Chiến nhấn mạnh.

                                                                                                                                     Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH 3D, PHẪU THUẬT THÀNH CÔNG KHỐI U HÀM MẶT XÂM LẤN PHỨC TẠP Ở CỤ ÔNG 76 TUỔI

Một cụ ông 76 tuổi ở Hà Nội mắc ung thư biểu mô tế bào vảy xâm lấn rộng vùng hàm mặt, ăn mòn nhiều cấu trúc xương và tổ chức quan trọng, vừa được các bác sĩ Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương phẫu thuật cắt bỏ khối u và tái tạo vùng khuyết hổng phức tạp. Nhờ ứng dụng mô hình 3D để lập kế hoạch trước mổ, hai ê-kíp phẫu thuật có thể phối hợp đồng thời, giúp hoàn thành ca phẫu thuật trong 8 giờ thay vì thời gian dự kiến khoảng 12 giờ, qua đó chủ động hơn trong kiểm soát các nguy cơ có thể xảy ra.

Khoảng 3 tháng trước khi nhập viện, ông N.D.S. (76 tuổi, trú tại Hà Nội) phát hiện một khối u ở vùng má phải. Khối u không gây đau nhưng phát triển nhanh, ngày càng cứng chắc, chèn ép các tổ chức xung quanh, làm hẹp hốc mắt và khiến thị lực của người bệnh suy giảm nghiêm trọng.

Kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI) tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cho thấy khối u đã xâm lấn, ăn mòn nhiều cấu trúc vùng hàm mặt, bao gồm toàn bộ xương gò má, xương hàm trên, vùng xoang hàm, hốc mũi, sàn và thành ngoài hốc mắt phải và các tổ chức xung quanh. Kết quả sinh thiết xác định người bệnh mắc ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC) xâm lấn.

Trước tình trạng tổn thương lan rộng, người bệnh được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ khối u triệt để kết hợp tái tạo vùng hàm mặt.

Theo TS Dương Mạnh Chiến, Phụ trách Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, người trực tiếp thực hiện ca phẫu thuật, đây là trường hợp rất phức tạp do khối u đã xâm lấn rộng vào xương hàm trên, xương gò má, các cấu trúc xương vùng mũi và thành dưới hốc mắt phải.

Để điều trị triệt căn, hạn chế nguy cơ tái phát và kiểm soát khả năng di căn, các bác sĩ phải tiến hành phẫu thuật cắt rộng tổn thương, loại bỏ khối u cùng các tổ chức bị xâm lấn và một phần tổ chức lành xung quanh theo nguyên tắc ung thư học; cắt bỏ phần xương hàm trên bên phải kèm nhãn cầu phải, vét hạch cổ, đồng thời tái tạo lại các cấu trúc vùng mặt đã bị cắt bỏ. Đây là một cuộc phẫu thuật đặc biệt khó, bởi bên cạnh yêu cầu kiểm soát triệt để khối u, các bác sĩ còn phải giải quyết một khuyết hổng lớn và phức tạp ở vùng mặt, đồng thời phục hồi tối đa cấu trúc giải phẫu cho người bệnh.

Để giải bài toán này, lần đầu tiên tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, các bác sĩ đã ứng dụng công nghệ mô hình 3D trong đánh giá tổn thương và lập kế hoạch phẫu thuật.

Từ dữ liệu hình ảnh chụp cắt lớp vi tính, ê-kíp phẫu thuật xây dựng mô hình 3D giúp hình dung trực quan, chính xác phạm vi tổn thương, xác định ranh giới cần cắt bỏ và mô phỏng trước các bước phẫu thuật. Dựa trên mô hình này, các bác sĩ có thể tính toán phương án cắt xương, dự kiến hình dạng phần xương cần tái tạo, đồng thời xác định trước vị trí lấy vạt và phương án tạo hình phù hợp với mức độ khuyết hổng.

Nhờ có “kịch bản” phẫu thuật được chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước, ê-kíp có thể chủ động hơn trong quá trình mổ, hạn chế tối đa những tình huống phát sinh và giảm nguy cơ cho người bệnh.

Với trường hợp đặc biệt này, các bác sĩ sử dụng vạt da, cơ và xương bả vai bên trái của chính người bệnh để tái tạo vùng khuyết hổng. Hai ê-kíp phẫu thuật được triển khai đồng thời.

 Ê-kíp 1 do các bác sĩ của chuyên gia Hoàng Văn Nhạ khoa TMH bệnh viện K3 chuyên khoa về ung thư phẫu thuật vùng đầu mặt cổ thực hiện loại bỏ triệt để toàn bộ khối u xâm lấn, vét hạch cổ, kiểm soát diện cắt và hạch vùng liên quan.

Song song đó, ê-kíp phẫu thuật tạo hình do TS Dương Mạnh Chiến thực hiện bóc vạt da, cơ và xương vùng bả vai trái của người bệnh để tái tạo. Các bác sĩ tạo hình lại cấu trúc xương hàm trên, vùng hốc mắt và phần mềm vùng mặt, đồng thời thực hiện nối mạch vi phẫu dưới kính hiển vi để đảm bảo vạt ghép được cấp máu tốt.

Sự phối hợp đồng thời giữa hai ê-kíp, cùng với kế hoạch phẫu thuật được chuẩn bị chi tiết trên nền tảng mô hình 3D, đã giúp rút ngắn đáng kể thời gian phẫu thuật. Nếu dự kiến ca mổ có thể kéo dài khoảng 12 giờ, thực tế các bác sĩ đã hoàn thành toàn bộ cuộc phẫu thuật trong 8 giờ.

Bên cạnh yếu tố chuyên môn và công nghệ, thể trạng của người bệnh cũng là một trong những yếu tố thuận lợi góp phần vào thành công của ca mổ. Dù đã 76 tuổi, ông S. không mắc các bệnh lý nền mạn tính đáng kể như đái tháo đường, tăng huyết áp hay bệnh lý tim mạch. Thể trạng tốt giúp người bệnh có khả năng đáp ứng với cuộc phẫu thuật kéo dài và giảm nguy cơ biến chứng toàn thân trong và sau mổ.

Sau 8 giờ phẫu thuật, ca mổ kết thúc thuận lợi. Sau 7 ngày điều trị tích cực, sức khỏe người bệnh phục hồi rõ rệt.

“Hiện tại, toàn trạng bệnh nhân ổn định, tỉnh táo, tiếp xúc tốt, có thể ngồi dậy và tự sinh hoạt. Vạt da ghép vi phẫu vùng mặt hồng ấm, được cấp máu tốt, trương lực mềm, cho thấy phần mô ghép sống tốt và đang thích ứng hiệu quả”, TS Dương Mạnh Chiến cho biết.

Thành công của ca phẫu thuật đánh dấu bước tiến trong việc ứng dụng công nghệ mô phỏng 3D vào lập kế hoạch phẫu thuật các tổn thương phức tạp vùng hàm mặt tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Sự kết hợp giữa công nghệ hiện đại, phẫu thuật ung thư và kỹ thuật tạo hình vi phẫu giúp các bác sĩ chủ động hơn trong xử trí những tổn thương rộng, phức tạp, rút ngắn thời gian phẫu thuật và giảm thiểu nguy cơ cho người bệnh.

                                                                                                                                                                                                   Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

MẮC BỆNH DA LIỄU DI TRUYỀN HIẾM GẶP SUỐT 6 NĂM, NGƯỜI PHỤ NỮ PHẢI QUẤN KHĂN QUANH NGƯỜI VÌ DA CHẢY DỊCH

Suốt 6 năm sống chung với căn bệnh da liễu hiếm gặp, người phụ nữ 54 tuổi liên tục phải chịu đựng những vùng da trợt loét, chảy dịch và đau rát ở khắp các nếp gấp trên cơ thể. Dịch tiết nhiều đến mức bà luôn phải quấn khăn quanh người để tránh làm ướt quần áo. Sau nhiều năm điều trị tại nhiều cơ sở y tế nhưng bệnh vẫn liên tục tái phát. Theo chai sẻ của người bệnh, đây là lần đầu tiên người bệnh kiểm soát được các tổn thương sau khi điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, vừa tiếp nhận và điều trị cho bà V.T.M. (54 tuổi, Hải Phòng). Người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh Hailey-Hailey (hay còn gọi là bệnh pemphigus gia đình lành tính)- một bệnh da liễu di truyền hiếm gặp (tỉ lệ mắc là 1:50.000) với các triệu chứng mảng da đỏ, trợt, bọng nước, chảy dịch, rất đau đớn và tái phát thường xuyên, hay gặp ở vùng nếp gấp.

Khi nhập viện, bệnh nhân xuất hiện nhiều vùng da đỏ, sưng nề, trợt, chảy dịch lan rộng ở hai bên cổ, nách, nếp lằn vú, bẹn, khuỷu tay, khoeo chân và rất đau đớn. Bà M. chia sẻ, bà đã mắc bệnh suốt 6 năm, trong đó 2 năm gần đây tình trạng ngày càng nặng. Các đợt bùng phát xảy ra liên tục khiến vùng da ở các nếp gấp luôn trong tình trạng lở loét, đau rát, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống hằng ngày. Bà đã nhiều lần điều trị tại các cơ sở y tế ở Hà Nội và Hải Phòng nhưng các tổn thương chỉ cải thiện trong thời gian ngắn rồi nhanh chóng tái phát. Đáng chú ý, khai thác tiền sử gia đình cho thấy bố, chú ruột và em gái của bệnh nhân đều mắc tình trạng tương tự, gợi ý rõ yếu tố di truyền của bệnh.

Bác sĩ Phạm Minh Tâm (Bác sĩ chuyên khoa Da liễu, Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa) cho biết, sau khi thăm khám toàn diện và làm các xét nghiệm cần thiết, bệnh nhân được xác định mắc Hailey-Hailey. Đây là bệnh lý do đột biến gen làm rối loạn sự liên kết giữa các tế bào lớp thượng bì, khiến lớp thượng bì da trở nên lỏng lẻo, dễ trợt nứt và hình thành bọng khi có ma sát hoặc trong môi trường ẩm ướt, ra mồ hôi nhiều (như vùng cổ, nách, dưới vú, bẹn…) hoặc nhiễm khuẩn, nhiễm nấm, nhiễm virus herpes.

“Hailey-Hailey không phải bệnh nhiễm trùng đơn thuần hay viêm da cơ địa thông thường mà là bệnh mạn tính có tính chất di truyền. Các yếu tố như nhiệt độ cao, tăng tiết mồ hôi, ma sát, hoặc tình trạng bội nhiễm vi khuẩn, virus, nấm đều có thể khiến bệnh bùng phát dữ dội hơn”- BS Phạm Minh Tâm phân tích.

Sau khi nhập viện, bệnh nhân được điều trị nội khoa bằng thuốc uống, thuốc bôi kết hợp kiểm soát tình trạng bội nhiễm. Để hạn chế nguy cơ tái phát lâu dài, các bác sĩ xây dựng phác đồ điều trị duy trì, trong đó tiêm Botulinum toxin A (Botox) nhằm giảm tiết mồ hôi được lựa chọn như một biện pháp điều trị hỗ trợ. Việc giảm tiết mồ hôi giúp hạn chế tình trạng ẩm ướt tại các vùng nếp gấp, tạo điều kiện để tổn thương cũ lành thương và hạn chế bùng phát bệnh. Do diện tích tổn thương da quá rộng, tiết dịch và người bệnh đau nhiều, các bác sĩ không thể thực hiện ủ tê tại chỗ như thông thường nên thủ thuật được tiến hành trong phòng mổ với hỗ trợ giảm đau để bảo đảm an toàn và giảm tối đa sự khó chịu cho người bệnh.

Sau 7 ngày điều trị, các vùng da trợt loét đã khô se, hết chảy dịch và giảm đau rõ rệt. Người bệnh được xuất viện và tiếp tục tái khám định kỳ hằng tháng để theo dõi, điều trị duy trì.

Theo BS Tâm, bệnh Hailey-Hailey (bệnh pemphigus gia đình lành tính) là bệnh da di truyền hiếm gặp. Trong nhiều năm công tác tại chuyên ngành Da liễu, bác sĩ chỉ gặp rất ít trường hợp tương tự. Mặc dù hiện nay chưa có phương pháp điều trị khỏi hoàn toàn, nhưng nếu được chẩn đoán đúng, điều trị phù hợp và kiểm soát tốt các yếu tố làm bệnh bùng phát, người bệnh hoàn toàn có thể kiểm soát tình trạng bệnh, hạn chế tái phát và cải thiện chất lượng cuộc sống.

BS Tâm khuyến cáo, khi xuất hiện các tổn thương kéo dài ở vùng nếp gấp như nách, cổ, dưới vú, bẹn… với biểu hiện trợt loét, chảy dịch, tái phát nhiều lần, người bệnh nên đến khám tại cơ sở y tế có chuyên khoa da liễu để được chẩn đoán chính xác. Người mắc bệnh Hailey-Hailey cần được theo dõi điều trị lâu dài, đồng thời duy trì cân nặng hợp lý, giữ vùng da nếp gấp luôn khô thoáng, hạn chế ma sát và kiểm soát tình trạng tăng tiết mồ hôi cùng các yếu tố khởi phát nhằm hạn chế nguy cơ bệnh tái phát.

                                                                                                                                                              Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

58 NĂM CHUNG SỐNG VỚI NGÓN TAY THỪA, NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐƯỢC TÁI TẠO CHỨC NĂNG BÀN TAY

Các bác sĩ Khoa Tạo hình thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương vừa phẫuthuật thành công cho nam bệnh nhân 58 tuổi mắc dị tật thừa ngón tay bẩm sinh ở cả hai bàn tay. Đáng chú ý, ngón thừa ở bàn tay phải đã phát triển bất thường trong nhiều thập kỷ, gây biến dạng cấu trúc giải phẫu, kéo lệch trục ngón tay và ảnh hưởng nghiêmtrọng đến chức năng vận động của bàn tay.

Bước ngoặt từ chuyến đi chăm người bệnh

Ông N.T.T (58 tuổi, Hà Nội) cho biết mình phát hiện thừa ngón từ khi còn nhỏ nhưng chưa từng điều trị. Theo thời gian, ông dần thích nghi với dị tật nên tiếp tục chung sống cùng tình trạng này suốt 58 năm. Chỉ đến khi vào chăm người thân tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương và được biết Khoa Tạo hình thẩm mỹ và Liên chuyên khoa có thể xử lý các trường hợp dị tật bàn tay phức tạp, ông mới quyết định thăm khám với mong muốn cải thiện chức năng bàn tay thuận của mình.

Theo TS.BS Dương Mạnh Chiến, dị tật thừa ngón tay có nhiều dạng khác nhau, tùy thuộc vị trí ngón thừa tách ra từ đầu ngón, khớp hay nền ngón. Nhiều trường hợp ngón thừa chỉ nối với ngón chính bằng một cuống da nhỏ nên hầu như không ảnh hưởng đến chức năng. Tuy nhiên, trường hợp của bệnh nhân T. là một dạng dị tật phức tạp.

Ở bàn tay phải – cũng là tay thuận – ngón thừa phát triển lớn bất thường, lấn át hoàn toàn ngón chính. Sự phát triển bất thường này không chỉ gây mất cân đối mà còn kéo lệch trục ngón tay chính, khiến ngón chính bị thiểu sản, teo nhỏ rõ rệt và suy giảm chức năng vận động.

“Đây không đơn thuần là một ngón tay thừa gây ảnh hưởng thẩm mỹ. Ngón thừa đã làm biến dạng cấu trúc giải phẫu, kéo lệch trục ngón chính và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng vận động của bàn tay. Ngón chính rất nhỏ, chỉ có kích thước tương đương ngón tay út, đầu ngón nhọn, khả năng cầm nắm và cảm nhận điểm chạm đều bị hạn chế”, TS.BS Dương Mạnh Chiến phân tích.

Trong khi đó, dị tật ở bàn tay trái đơn giản hơn. Ngón thừa cũng xuất phát từ vùng nền ngón, gây vướng khi vận động nhưng ít ảnh hưởng đến ngón chính và không gây biến dạng chức năng đáng kể.

“Hiến” ngón thừa để tái tạo ngón chính

Theo bác sĩ Chiến, mục tiêu điều trị trong những trường hợp như vậy không chỉ là cắt bỏ ngón thừa. Nếu phẫu thuật đơn thuần loại bỏ phần thừa, người bệnh có thể mất thêm chức năng vận động do nhiều gân quan trọng đang phân bố cho cả ngón chính và ngón thừa. “Điều quan trọng nhất là tái tạo lại ngón tay chứ không phải chỉ loại bỏ phần thừa. Chúng tôi phải tận dụng tối đa các cấu trúc của ngón thừa để phục hồi chức năng cho ngón chính”, BS Chiến cho biết.

Trong ca phẫu thuật, ê-kíp đã cắt bỏ phần xương và móng của ngón thừa, đồng thời bảo tồn gần như toàn bộ các cấu trúc còn lại. Các gân vận động từ ngón thừa được chuyển sang ngón chính để duy trì chức năng dạng và duỗi ngón tay. Song song với đó, các bác sĩ tiến hành chỉnh lại trục ngón tay bị vẹo, đưa ngón trở về vị trí gần với giải phẫu bình thường.

Đặc biệt, phần mềm từ ngón thừa cũng được tận dụng để tái tạo đầu ngón tay. Trước phẫu thuật, đầu ngón chính bị thiểu sản, nhọn và nhỏ. Sau tạo hình, đầu ngón được làm đầy hơn, tăng diện tích tiếp xúc, giúp cải thiện cảm giác và khả năng cầm nắm đồ vật.

Hình ảnh sau mổ cho thấy ngón tay đã được chỉnh thẳng trục, ngón thừa được loại bỏ hoàn toàn, đầu ngón tròn đều hơn và hình thái ngón tay gần với cấu trúc giải phẫu tự nhiên.

Đừng để trẻ phải lớn lên cùng dị tật

TS.BS Dương Mạnh Chiến nhấn mạnh, dị tật thừa ngón tay cần được phát hiện và can thiệp sớm, đặc biệt trong giai đoạn bàn tay còn phát triển. Phẫu thuật đúng thời điểm không chỉ giúp tối ưu chức năng vận động mà còn hạn chế các biến dạng thứ phát của xương, khớp, gân và phần mềm.

“Bàn tay là cơ quan tham gia gần như mọi hoạt động sinh hoạt hằng ngày. Từ cầm bút, ăn uống, lao động cho đến các thao tác tinh tế đều cần đến chức năng bàn tay. Vì vậy, những dị tật ảnh hưởng đến cấu trúc bàn tay cần được đánh giá và xử lý sớm để người bệnh có được chức năng tốt nhất”, BS Chiến cho biết.

Hiện sức khỏe bệnh nhân ổn định sau phẫu thuật. Dự kiến sau khoảng ba tuần, đinh cố định dùng để chỉnh trục ngón tay sẽ được rút bỏ. Chức năng vận động của bàn tay được kỳ vọng sẽ cải thiện rõ rệt sau quá trình hồi phục và tập phục hồi chức năng.

BS Chiến khuyến cáo, phụ huynh khi phát hiện trẻ có dị tật bẩm sinh ở bàn tay như thừa ngón, dính ngón hoặc bất thường trục ngón tay nên đưa trẻ đến cơ sở chuyên khoa tạo hình – bàn tay để được đánh giá sớm. Việc trì hoãn điều trị trong nhiều năm có thể khiến dị tật ảnh hưởng ngày càng nhiều đến chức năng vận động, làm giảm hiệu quả phục hồi về sau.

                                                                                                                                                                                          Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

MANG KHỐI U KHỔNG LỒ NHƯ “MAI RÙA” SUỐT 7 NĂM, BÉ TRAI LẦN ĐẦU TIÊN ĐỨNG THẲNG

Từ một đứa trẻ phải sống chung với khối u hắc tố khổng lồ sần sùi, đè nặng trên lưng như một chiếc “mai rùa” khiến N.V.T (7 tuổi, Hà Nội) không thể đứng thẳng. Sau 6 lần đại phẫu kiên trì, cậu bé 7 tuổi ấy lần đầu tiên trong đời đã có thể tự tin đứng thẳng như bao bạn bè đồng trang lứa.

Theo TS.BS Dương Mạnh Chiến, ngay từ khi mới sinh, trên người bệnh nhi đã xuất hiện một khối nơ vi hắc tố rất lớn. Theo thời gian, tổn thương ngày càng dày lên, cứng hơn, gồ cao và bao phủ gần như toàn bộ vùng lưng, ngực, bụng. Đặc biệt, phần nơ vi quá phát ở vùng lưng tạo thành một khối gồ lớn, khiến hình dáng phía sau của em giống như đang mang một chiếc “mai rùa”.

TS.BS Dương Mạnh Chiến cho biết, đây là một ca lâm sàng cực kỳ hiếm gặp. Thông thường, nơ vi hắc tố là bệnh lý bẩm sinh và đa số là lành tính. Tuy nhiên, với những khối nơ vi có kích thước khổng lồ, bề mặt dày, gồ cao, hoặc xuất hiện tình trạng loét, ngứa thì nguy cơ ác tính hóa thành ung thư hắc tố da là rất lớn.

Khác với suy nghĩ của nhiều người, khối nơ vi khổng lồ không tăng kích thước đột biến mà sẽ lớn lên tương ứng theo sự phát triển của cơ thể. Với trường hợp này, khối u đã chiếm tới hơn 1/3 cơ thể em bé. Việc cắt bỏ toàn bộ tổn thương trong một lần phẫu thuật là điều không thể, do trẻ nhỏ không có đủ lượng da lành để che phủ sau cắt u.

“Khó khăn lớn nhất không phải là cắt khối nơ vi đi, mà là sau đó lấy da ở đâu để che phủ. Nếu lấy da ở vị trí khác ghép vào sẽ tạo thêm sẹo lớn, ảnh hưởng nặng nề đến thẩm mỹ của trẻ sau này”, bác sĩ Chiến chia sẻ.

Trước bài toán đó, các bác sĩ đã lựa chọn chiến lược phẫu thuật cuốn chiếu theo từng giai đoạn. Mỗi lần phẫu thuật, ê-kíp sẽ cắt bỏ tối đa phần nơ vi trong giới hạn cho phép, sau đó tận dụng độ đàn hồi tự nhiên của vùng da lành xung quanh để vạt kéo che phủ tổn khuyết. Sau một thời gian vạt da cũ giãn thêm ra, trẻ sẽ tiếp tục được phẫu thuật ở giai đoạn tiếp theo.

Sau 6 lần kiên trì phẫu thuật, quả ngọt đầu tiên đã đến. Khối nơ vi đã giảm đáng kể cả về kích thước lẫn độ dày (giảm khoảng 50% diện tích so với ban đầu). Điều hạnh phúc nhất là cậu bé hiện tại đã có thể đứng thẳng lưng, không còn bị gù rạp xuống như trước.

“Từ hình ảnh giống như một chiếc mai rùa, hiện nay chúng tôi đã loại bỏ được một phần đáng kể khối tổn thương. Tuy nhiên, đây vẫn là một hành trình rất dài. Dự kiến bệnh nhi sẽ phải trải qua thêm khoảng 4–5 lần phẫu thuật nữa mới có thể xử lý hết” – Bác sĩ Chiến thông tin.

Theo phác đồ, sau mỗi lần mổ, vùng da được kéo căng sẽ mềm và giãn dần ra sau khoảng 10–14 ngày giúp trẻ dễ chịu hơn. Vết thương sẽ liền tốt sau khoảng 20 ngày. Bệnh nhi sẽ được xuất viện, theo dõi định kỳ từ 6 tháng đến 1 năm trước khi bước vào đợt phẫu thuật kế tiếp.

Qua trường hợp này, các bác sĩ nhấn mạnh việc lên kế hoạch điều trị sớm nơ vi hắc tố khổng lồ bẩm sinh có ý nghĩa sống còn. Mặc dù hiện tại khối u chưa có dấu hiệu ác tính, việc loại bỏ tổn thương từ sớm sẽ giúp triệt tiêu nguy cơ ung thư hắc tố trong tương lai, đồng thời cải thiện toàn diện chức năng vận động, thẩm mỹ và giải tỏa tâm lý mặc cảm cho trẻ.

Bác sĩ khuyến cáo: Nếu phát hiện trẻ có nơ vi hắc tố kích thước lớn ngay từ khi sinh, đặc biệt là các tổn thương tiến triển dày lên, gồ cao, loét, ngứa hoặc đổi màu bất thường, gia đình cần đưa trẻ đến ngay các cơ sở chuyên khoa tạo hình thẩm mỹ uy tín để được thăm khám và lên kế hoạch điều trị kịp thời.

                                                                                                                                                                                         Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

TỪ NỐT NHỎ TRÊN MÁ ĐẾN KHỐI U XÂM LẤN XƯƠNG GÒ MÁ SAU NHIỀU LẦN TÁI PHÁT

Từ một nốt nhỏ xuất hiện trên má, ông N.V.L. (70 tuổi, Hà Nội) đã trải qua nhiều năm điều trị với nhiều lần phẫu thuật và xạ trị nhưng tổn thương vẫn liên tục tái phát. Khi đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, khối tổn thương đã xâm lấn sâu vào mô mềm, cơ và xương gò má, gây biến dạng khuôn mặt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng và thẩm mỹ.

Theo TS.BS Dương Mạnh Chiến, phụ trách Khoa Phẫu thuật Tạo hình thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, tổn thương ban đầu của bệnh nhân chỉ là một nốt rất nhỏ ở vùng má. Người bệnh đã được phẫu thuật cắt bỏ tại một cơ sở y tế tại TP.HCM nhưng sau đó khối u nhanh chóng tái phát. Ở lần phẫu thuật thứ hai, kết quả giải phẫu bệnh xác định đây là ung thư da tế bào vảy vùng má.

Sau khi có chẩn đoán, bệnh nhân tiếp tục được phẫu thuật cắt rộng tổn thương, tạo hình che phủ bằng vạt da vùng trán và tiến hành xạ trị. Tuy nhiên, quá trình xạ trị khiến vùng da xung quanh bị xơ hóa, co kéo và teo cứng. Sau một thời gian ổn định, tổn thương tiếp tục tái phát.

Vài tháng trước khi nhập viện, bệnh nhân được phẫu thuật thêm một lần nữa tại Hà Nội. Sau khi cắt bỏ tổn thương và khâu đóng vết mổ, chỉ khoảng hai tuần sau, vết mổ đã bung và tổn thương xuất hiện trở lại. Người bệnh tiếp tục được cắt bỏ và ghép da che phủ nhưng khoảng 6 tháng sau, vùng tổn thương lại sùi lên và tái phát.

Khi đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, tổn thương không còn khu trú ở vùng má mà đã gây co kéo toàn bộ mô mềm xung quanh. Mi dưới bị kéo trễ rõ rệt, góc mép lệch khỏi vị trí giải phẫu bình thường. Vùng da từng xạ trị trở nên xơ cứng, biến dạng, ảnh hưởng đáng kể đến chức năng cũng như diện mạo khuôn mặt.

Theo TS.BS Dương Mạnh Chiến, thử thách lớn nhất của ca bệnh không chỉ là cắt bỏ khối u mà còn là bài toán tái tạo sau phẫu thuật. Vùng mặt tập trung nhiều cấu trúc giải phẫu quan trọng như các nhánh thần kinh mặt, tuyến nước bọt, hệ thống mạch máu và các đơn vị chức năng liên quan đến mắt, miệng.

Với những tổn thương tái phát nhiều lần, nếu không cắt đủ rộng thì nguy cơ tái phát tiếp tục là rất cao. Nhưng khi cắt rộng ở vùng mặt, việc tái tạo lại chức năng và thẩm mỹ lại là một thách thức cực kỳ lớn”, TS.BS Dương Mạnh Chiến chia sẻ.

Trong quá trình phẫu thuật, ê-kíp đã tiến hành cắt rộng toàn bộ vùng tổn thương. Do khối u đã xâm lấn rất sâu, các bác sĩ buộc phải cắt bỏ một phần cơ cắn và đục bỏ bản trước của xương gò má bị tổn thương. Sau khi cắt bỏ, vùng khuyết hổng để lại trên mặt bệnh nhân rất lớn, lộ cả phần xương bên dưới. Để phục hồi chức năng và thẩm mỹ cho người bệnh, các bác sĩ đồng thời thực hiện tái tạo lại mi dưới nhằm khắc phục tình trạng trễ mi, đưa góc mép trở về vị trí giải phẫu gần bình thường, đồng thời sử dụng vạt da tự do từ vùng đùi để che phủ toàn bộ vùng khuyết hổng. Ê-kíp đã tiến hành nối vi phẫu hệ thống mạch máu nuôi vạt da nhằm đảm bảo nuôi sống mô ghép.

Sau phẫu thuật, mi mắt bệnh nhân đã khép kín trở lại, góc mép được chỉnh về vị trí phù hợp. Vùng da tái tạo có độ dày tương đối tương đồng với mô mặt xung quanh, mang lại kết quả chức năng và thẩm mỹ khả quan.

TS.BS Dương Mạnh Chiến cho biết, trường hợp này cho thấy nhiều tổn thương da ban đầu có thể chỉ xuất hiện dưới dạng một nốt nhỏ, nhưng nếu là tổn thương ác tính hoặc không được xử lý triệt để sẽ có nguy cơ tái phát nhiều lần, xâm lấn ngày càng sâu vào mô mềm, cơ và thậm chí cả xương.

TS.BS Dương Mạnh Chiến khuyến cáo, người dân tuyệt đối không được chủ quan với các tổn thương dạng nốt, sùi, loét kéo dài trên da. Đặc biệt, những tổn thương đã từng điều trị nhưng liên tục tái phát cần được thăm khám tại các cơ sở có khả năng chẩn đoán, điều trị ung thư kết hợp phẫu thuật tạo hình.

“Trong nhiều trường hợp, tổn thương tái phát liên tục là do không thể cắt đủ rộng ở những lần điều trị trước vì lo ngại không che phủ được khuyết hổng sau phẫu thuật. Nếu có kế hoạch tái tạo phù hợp ngay từ đầu, phẫu thuật viên sẽ chủ động cắt bỏ triệt để hơn, từ đó giảm nguy cơ tái phát và bảo tồn tốt hơn chức năng cho người bệnh”, TS.BS Dương Mạnh Chiến nhấn mạnh.

                                                                                                                                                   Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

CỨU SỐNG 1/3 VÀNH TAI GẦN ĐỨT RỜI BẰNG CHIẾN LƯỢC BẢO TỒN TRÌ HOÃN

Một tai nạn giao thông tưởng chừng sẽ để lại khiếm khuyết vĩnh viễn về thẩm mỹ đã có cái kết đầy hy vọng nhờ quyết định xử trí kịp thời và chiến lược bảo tồn phù hợp của các bác sĩ. Tại Khoa Phẫu thuật Tạo hình – Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, ê-kíp do ThS.BS Nguyễn Ngọc Linh phụ trách vừa xử trí thành công một ca chấn thương đặc biệt hy hữu: bệnh nhân nam bị tai nạn xe máy va quệt với xe tải khiến vành tai ngoài bị đứt gần rời, chỉ còn dính lại bằng một cầu da rất nhỏ và gần như không còn được cấp máu.

Theo ThS.BS Nguyễn Ngọc Linh, đây là dạng tổn thương mà trước đây phần lớn buộc phải cắt bỏ hoàn toàn, dẫn đến mất vĩnh viễn một phần vành tai, gây biến dạng đáng kể khuôn mặt. Tai không chỉ là cơ quan thính giác mà còn là cấu trúc quan trọng tạo nên đường nét và sự cân đối của khuôn mặt. Với những chấn thương đứt rời hoặc gần rời vành tai, thời gian xử trí đóng vai trò mang tính quyết định. Mỗi phút trôi qua đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bảo tồn mô, duy trì chức năng và kết quả thẩm mỹ về sau.

Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng vành tai bị đứt gần như tách hoàn toàn khỏi đầu, nguy cơ hoại tử rất cao nếu không được xử trí đúng kỹ thuật. Đây cũng là chấn thương khiến người bệnh rơi vào trạng thái hoang mang, lo lắng lớn về khả năng phục hồi hình dạng khuôn mặt.
Ngay khi tiếp nhận, ê-kíp ưu tiên bảo tồn mô tối đa. BS Linh cho biết phương án nối mạch bằng vi phẫu ở vị trí này là rất khó vì tổn thương nằm ở phần xa tai, nơi mạch máu cực nhỏ, khó tìm và khó nối, thậm chí dưới kính hiển vi phẫu thuật phóng đại cũng không dễ nhìn rõ. Thay vì cắt bỏ như cách xử trí truyền thống, ê-kíp áp dụng chiến lược bảo tồn trì hoãn – làm sạch kỹ vết thương, xử lý phần mềm, khâu phục hồi theo nguyên tắc tạo hình thẩm mỹ để giữ hình dáng vành tai tự nhiên, đồng thờingười bệnh được chăm sóc liên tục bằng các biện pháp chuyên sâu như giữ ẩm mô bằng nhỏ giọt nước muối, tránh khô mô, chiếu đèn để giữ ấm và tăng tưới máu vi mạch, theo dõi sát từng thay đổi màu sắc và nhiệt độ mô. BS Linh cho biết, chỉ cần qua những ngày đầu tiên mà mô không hoại tử, các mạch máu tân tạo sẽ bắt đầu hình thành và cơ hội giữ được vành tai gần như chắc chắn.
BS Linh nhấn mạnh, với những chấn thương đứt gần rời phần mềm nhỏ như vành tai, mép môi hay đầu ngón tay, lựa chọn tối ưu không phải lúc nào cũng là phẫu thuật nối mạch ngay lập tức. Trong nhiều trường hợp, kiên trì bảo tồn, chăm sóc đúng kỹ thuật và theo dõi sát giúp mang lại kết quả thẩm mỹ tự nhiên hơn, ít biến dạng hơn và không cần tái tạo phức tạp về sau.
Bác sĩ khuyến cáo, khi gặp chấn thương đứt rời một phần cơ thể, người dân cần giữ lại phần cơ thể bị đứt – dù nhỏ đến đâu – bọc bằng gạc sạch, cho vào túi nylon kín và làm lạnh gián tiếp bằng đá; tuyệt đối không đặt trực tiếp lên đá, không rửa bằng cồn hay dung dịch sát khuẩn mạnh và đến bệnh viện càng sớm càng tốt.
“Với kỹ thuật tạo hình hiện đại, rất nhiều phần cơ thể tưởng như phải bỏ đi vẫn có thể được cứu sống, giữ được hình dáng tự nhiên và chức năng. Nhưng điều đó chỉ có thể làm được nếu xử trí ban đầu đúng cách và bệnh nhân đến viện kịp thời”, BS Linh nhấn mạnh. Hiện bệnh nhân đã ổn định, ra viện và được hướng dẫn chăm sóc sẹo để đảm bảo đạt kết quả thẩm mỹ cao nhất.
                                                                                                                                                             Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

THANH NIÊN 17 TUỔI NGUY KỊCH VÌ NHIỄM KHUẨN NẶNG TỪ MỘT NỐT MỤN NHỎ

Chỉ từ một nốt mụn ở vùng mông, nam thanh niên 17 tuổi đã rơi vào tình trạng sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng, tổn thương phổi nghiêm trọng và hoại tử diện rộng vùng mông – cùng cụt, phải trải qua quá trình hồi sức và phẫu thuật kéo dài để giữ lại tính mạng.

Bệnh nhân L.V.L (17 tuổi, Cao Bằng) xuất hiện một nốt mụn bọc ở vùng mông khoảng một tháng trước khi nhập viện. Do cho rằng đây chỉ là mụn thông thường của tuổi mới lớn nên bệnh nhân không đi khám, không điều trị và cũng không chú ý chăm sóc vệ sinh vùng tổn thương.

Khoảng bốn ngày trước khi nhập viện, bệnh nhân bắt đầu xuất hiện tình trạng mệt mỏi, ho nhiều, khạc đờm trong và khó thở tăng dần. Đến ngày nhập viện, người bệnh khó thở dữ dội, đau tức ngực, tím tái, lơ mơ và được gia đình đưa đến bệnh viện tuyến dưới trong tình trạng sốt cao 38,8°C, nhịp tim nhanh, mạch quay không bắt được, phổi thông khí kém. Bệnh nhân được chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn, viêm phổi nặng, suy đa tạng, rối loạn đông máu, rối loạn điện giải, phải đặt ống nội khí quản thở máy và chuyển khẩn cấp đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương để tiếp tục điều trị.

Tại Trung tâm Hồi sức tích cực, bệnh nhân nhập viện trong tình trạng sốc nhiễm khuẩn nặng, phải thở máy, sử dụng thuốc vận mạch liều cao và theo dõi huyết áp liên tục qua catheter tĩnh mạch trung tâm. Kết quả chụp CT lồng ngực cho thấy hai phổi xuất hiện nhiều ổ áp xe, kèm tràn khí và tràn dịch màng phổi hai bên. Hình ảnh cộng hưởng từ vùng đùi – mông phát hiện nhiều ổ áp xe lan rộng trong mô mềm dưới da vùng cùng cụt và toàn bộ khối cơ mông hai bên.
Bệnh nhân nhanh chóng được dẫn lưu màng phổi hai bên, hút ra lượng lớn dịch mủ màu vàng nâu, đồng thời được chỉ định phẫu thuật cắt lọc vùng hoại tử. Các bác sĩ xác định người bệnh bị sốc nhiễm khuẩn do tụ cầu vàng kháng thuốc (MRSA), áp xe phổi, áp xe vùng mông kèm tràn khí, tràn mủ màng phổi — tình trạng tiên lượng rất nặng.
Theo bác sĩ Lê Thị Huyền, nốt nhọt vùng mông tồn tại kéo dài nhưng không được xử trí đã trở thành ổ nhiễm khuẩn ban đầu. Do nằm ở vị trí kín đáo, tổn thương âm thầm lan sâu vào mô mềm, gây hoại tử da, cơ, lộ gân xương vùng mông. Vi khuẩn từ ổ áp xe xâm nhập vào máu gây nhiễm trùng huyết, đồng thời hình thành các ổ di bệnh tại phổi dẫn đến áp xe phổi và suy đa tạng.
Người bệnh được hồi sức tích cực, kiểm soát nhiễm khuẩn, dẫn lưu mủ hai bên phổi và điều chỉnh rối loạn đông máu. Sau thời gian điều trị, tình trạng hô hấp dần cải thiện, nhu cầu oxy giảm, tuy nhiên tổn thương phổi vẫn còn nặng và cần tiếp tục theo dõi sát.
Đối với vùng mông – cùng cụt bị hoại tử nghiêm trọng, bệnh nhân được phẫu thuật nhiều lần để cắt lọc mô chết, chọc hút dịch mủ và đặt hệ thống hút áp lực âm (VAC) nhằm làm sạch vết thương. Sau ba tuần điều trị, toàn bộ tổ chức hoại tử được loại bỏ, mô hạt bắt đầu hồi phục nhưng diện khuyết phần mềm chiếm khoảng 60% vùng mông, các cơ mông gần như teo hoàn toàn.
Bác sĩ Nguyễn Ngọc Linh, Khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và liên chuyên khoa cho biết, những bệnh nhân hồi sức kéo dài rất dễ xuất hiện loét tỳ đè vùng cùng cụt. Đây là khu vực thường xuyên ẩm ướt, dễ nhiễm bẩn do tiếp xúc với dịch bài tiết, tạo điều kiện để vi khuẩn xâm nhập trực tiếp vào máu, khiến tình trạng nhiễm khuẩn ngày càng nặng hơn.
Phẫu thuật tạo hình vùng cùng cụt là kỹ thuật đặc biệt khó do vị trí gần hậu môn, nguy cơ nhiễm trùng cao và người bệnh phải nằm tỳ đè lên chính vùng da mới tạo hình sau mổ. Với trường hợp này cần lựa chọn các chất liệu tạo hình dày dặn, tưới máu tốt để tăng khả năng chống nhiễm trùng và chống loét tì đè tái phát. Ngoài ra do tổn khuyết rất rộng, các bác sĩ cần huy động toàn bộ da lành hai bên mông bằng hai vạt da được cấp máu bởi các mạch xuyên để tạo hình che phủ.
Sau hai tuần phẫu thuật tạo hình, bệnh nhân đã có thể ngồi dậy, vết thương liền gần hoàn toàn và đang được tập phục hồi chức năng, dự kiến ra viện trong thời gian tới.
Các chuyên gia khuyến cáo người dân không nên chủ quan với các nốt nhọt, áp xe ngoài da, đặc biệt ở những vị trí kín đáo. Khi xuất hiện dấu hiệu sưng đau, mưng mủ kéo dài cần đi khám sớm để tránh nguy cơ nhiễm khuẩn lan rộng và nhiễm trùng huyết nguy hiểm. Với bệnh nhân nằm lâu hoặc điều trị hồi sức dài ngày, việc chăm sóc, vệ sinh và phòng loét tỳ đè đóng vai trò quyết định trong phòng ngừa biến chứng nặng.
Điều trị thành công các trường hợp nhiễm khuẩn nặng đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa hồi sức tích cực, kiểm soát nhiễm trùng, chăm sóc vết thương, dinh dưỡng đầy đủ và kiểm soát tốt các bệnh lý nền nhằm giúp người bệnh phục hồi và hạn chế tối đa nguy cơ tái phát.
                                                                                                                                                            Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

BIẾN CHỨNG NHIỄM TRÙNG NẶNG SAU PHẪU THUẬT THẨM MỸ: CẢNH BÁO CHO NGƯỜI LÀM ĐẸP

Vừa qua, Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa – Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương đã tiếp nhận và điều trị cho một nữ bệnh nhân trong tình trạng nhiễm trùng vú nghiêm trọng, hoại tử diện rộng. Đây là một trường hợp biến chứng nặng sau khi bệnh nhân thực hiện phẫu thuật thẩm mỹ tại một cơ sở y tế trước đó.

Bệnh nhân là chị L.T. T (43 tuổi), hiện sinh sống tại nước ngoài. Trong thời gian về Việt Nam, chị quyết định thực hiện phẫu thuật thẩm mỹ để cải thiện vóc dáng. Trước đó khoảng 2 năm, bệnh nhân từng phẫu thuật nâng ngực và hút mỡ tạo hình thành bụng. Tuy nhiên, do chưa hài lòng với kết quả, chị tiếp tục thực hiện phẫu thuật thu nhỏ và treo sa trễ ngực tại một cơ sở y tế.

Khoảng một tháng sau phẫu thuật, bệnh nhân bắt đầu xuất hiện các dấu hiệu bất thường như sốt nhẹ, sưng đau vùng vú hai bên, chảy dịch và mủ tại vết mổ. Trong vòng hai tháng, bệnh nhân đã phải trải qua ba lần phẫu thuật để lấy bỏ túi độn, cắt lọc tổ chức hoại tử và làm sạch ổ áp xe, đồng thời điều trị nhiều đợt kháng sinh liều cao. Tuy nhiên, tình trạng nhiễm trùng vẫn không cải thiện rõ rệt, đặc biệt ở vú phải. Sau đó bệnh nhân được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương để tiếp tục điều trị.

Khi nhập viện, tình trạng của bệnh nhân đã ở mức nghiêm trọng. Vú phải sưng nề, hoại tử da diện rộng với vùng khuyết da khoảng 5 x 8 cm, chảy dịch đục. Vú trái tuy vết mổ đã liền tương đối nhưng vẫn còn đau nhiều. Kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI) cho thấy hình ảnh ổ hoại tử và tụ dịch trong nhu mô và khoang dưới tuyến vú hai bên. Các bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân bị nhiễm trùng và áp xe vú hai bên sau phẫu thuật vú.

TS. Dương Mạnh Chiến – Phụ trách Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, người trực tiếp điều trị cho bệnh nhân cho biết: đây là một trường hợp rất phức tạp. Bệnh nhân đã trải qua nhiều lần phẫu thuật trước đó, tổn thương nhiễm trùng lan rộng trong nhu mô tuyến vú khiến việc kiểm soát nhiễm trùng trở nên khó khăn hơn.

Một trong những thách thức đối với ê-kíp điều trị là không có đầy đủ hồ sơ phẫu thuật và danh mục thuốc đã sử dụng trước đó. Vì vậy, các bác sĩ phải tiến hành đánh giá toàn diện tình trạng bệnh, bao gồm xác định vi khuẩn gây nhiễm trùng, mức độ tổn thương mô và phạm vi hoại tử để xây dựng phác đồ điều trị phù hợp.

Dự kiến quá trình điều trị của bệnh nhân sẽ trải qua ít nhất hai giai đoạn. Ở giai đoạn đầu, các bác sĩ tiến hành phẫu thuật cắt lọc triệt để ổ áp xe, loại bỏ toàn bộ tổ chức hoại tử và mô nhiễm trùng. Sau khi tình trạng nhiễm trùng được kiểm soát và mô hạt phát triển tốt, bệnh nhân mới có thể bước sang giai đoạn phẫu thuật tạo hình phục hồi vùng ngực.

Theo các bác sĩ, nhiễm trùng sau phẫu thuật vú là biến chứng không thường gặp nhưng có thể xảy ra, đặc biệt ở những bệnh nhân đã từng trải qua nhiều lần phẫu thuật vùng ngực hoặc có đặt túi độn. Nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời, biến chứng có thể dẫn đến hoại tử mô, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và kết quả thẩm mỹ.
Qua trường hợp này, các bác sĩ khuyến cáo người dân khi có nhu cầu phẫu thuật thẩm mỹ cần đặc biệt lưu ý:
1. Lựa chọn cơ sở y tế được cấp phép thực hiện phẫu thuật thẩm mỹ.
2. Bác sĩ thực hiện phẫu thuật cần có chứng chỉ hành nghề đúng chuyên khoa.
3. Người bệnh cần tuân thủ nghiêm ngặt hướng dẫn chăm sóc sau phẫu thuật và tái khám đúng lịch.
Làm đẹp là nhu cầu chính đáng của nhiều người. Tuy nhiên, việc lựa chọn cơ sở y tế uy tín và đảm bảo các điều kiện an toàn y khoa là yếu tố quan trọng giúp giảm thiểu nguy cơ biến chứng và đạt được kết quả thẩm mỹ như mong muốn.
*Thông tin bệnh nhân đã được thay đổi một số chi tiết nhằm đảm bảo quyền riêng tư và phục vụ mục đích truyền thông y tế.
                                                                                                                                                              Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

SUÝT MẤT CHÂN VÌ ĐẮP LÁ CHỮA BỎNG SUỐT 1 THÁNG

Tự ý điều trị bỏng bằng cách đắp lá tại nhà suốt một tháng, nam bệnh nhân V.M.D (44 tuổi, người dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang) đã phải nhập viện trong tình trạng cẳng chân hoại tử nặng, bốc mùi hôi thối, tổn thương sâu tận xương và đối mặt với nguy cơ phải cắt cụt chi để bảo toàn tính mạng.

Bệnh nhân bị bỏng lửa một tháng trước đó nhưng không đến cơ sở y tế mà tự điều trị theo kinh nghiệm dân gian bằng cách đắp lá chữa bệnh. Chỉ đến khi vùng tổn thương sưng to, đau tăng dần, hoại tử lan rộng và chảy dịch mủ nghiêm trọng, người bệnh mới được đưa đến bệnh viện tuyến tỉnh và nhanh chóng chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

TS.BS Dương Mạnh Chiến, Phụ trách khoa Phẫu thuật Tạo hình thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cho biết toàn bộ mặt sau cẳng chân trái của bệnh nhân đã hoại tử gần như hoàn toàn, lan rộng 50–70% bàn chân, tổn thương sâu vào xương gót, gân gót (gân Achilles) và các đầu xương chày, xương mác. Ngay lập tức, ê-kíp phẫu thuật đã cắt lọc toàn bộ mô hoại tử mủn đen và đặt hệ thống hút áp lực âm (VAC) để kiểm soát nhiễm trùng. Sau một tuần chăm sóc tích cực, quá trình hoại tử dừng lại. Các bác sĩ bước vào giai đoạn tái tạo đầy thách thức cho vùng khuyết hổng rất rộng vốn đã bị viêm xương và lộ xương.

Trong cuộc đại phẫu kéo dài 6 giờ đồng hồ, ê-kíp tạo hình đã phối hợp với chuyên khoa chấn thương chỉnh hình để nạo sạch tổ chức viêm và mô hoại tử trong xương trước khi thực hiện kỹ thuật vi phẫu phức tạp. Các bác sĩ lựa chọn lấy vạt da cơ từ vùng lưng của bệnh nhân để che phủ vùng tổn thương. Phần cơ của vạt giúp cung cấp nguồn máu phong phú để đưa kháng sinh và tế bào miễn dịch đến kiểm soát viêm xương, trong khi phần da tái tạo lại vùng đệm gót bền vững cho việc đi lại sau này. Điểm khó nhất của ca mổ là việc nối mạch máu nuôi vạt ghép vào hệ mạch vùng cẳng chân vốn đã bị tổn thương do nhiễm trùng. Bằng kỹ thuật nối mạch tận bên, các bác sĩ vừa đảm bảo giúp máu được đến nuôi dưỡng vạt đồng thời vẫn duy trì được máu xuống nuôi dưỡng bàn chân.

Theo TS.BS Dương Mạnh Chiến, đây là loại phẫu thuật nặng với nhiều nguy cơ do diện tích tổn thương lớn, nguy cơ chảy máu cao, thời gian mổ kéo dài và bệnh nhân phải được gây mê trong tư thế nằm sấp – tư thế có nhiều rủi ro hơn so với phẫu thuật thông thường. “Với mức độ tổn thương như trường hợp này, ở nhiều cơ sở y tế khác bệnh nhân có thể đã phải cắt cụt chi do tổn thương sâu và nguy cơ nhiễm trùng lan rộng. Tuy nhiên, với các kỹ thuật tạo hình và vi phẫu hiện nay, việc bảo tồn chi thể vẫn có thể thực hiện được nếu kiểm soát tốt nhiễm trùng và tái tạo mô phù hợp.”
Sau mổ hai ngày, tình trạng vạt ghép bước đầu ổn định. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn cần được theo dõi và chăm sóc lâu dài để kiểm soát hoàn toàn nhiễm trùng và phục hồi chức năng vận động.
TS.BS Dương Mạnh Chiến khuyến cáo, bỏng lửa diện rộng là dạng bỏng đặc biệt nguy hiểm do tổn thương thường sâu và lan rộng, dễ gây phá hủy da, mô mềm, mạch máu. Khi diện tích bỏng lớn hoặc tổn thương sâu, nguy cơ nhiễm trùng, hoại tử mô và biến chứng toàn thân có thể xảy ra nhanh chóng. Việc tự ý đắp lá, dùng thuốc không rõ nguồn gốc hoặc chậm trễ đến cơ sở y tế có thể khiến vết thương nhiễm trùng nặng, thậm chí phá hủy cả gân, xương nếu không được xử trí kịp thời, làm tăng nguy cơ mất chi và đe dọa tính mạng.
Với mọi trường hợp bỏng, đặc biệt là bỏng lửa diện rộng hoặc các vết thương hở sâu, người dân tuyệt đối không tự điều trị bằng các phương pháp dân gian. Khi có dấu hiệu sưng đau tăng dần, chảy dịch, đổi màu da hoặc xuất hiện hoại tử, cần đến cơ sở y tế chuyên khoa càng sớm càng tốt để được đánh giá và xử trí đúng cách. Điều trị kịp thời không chỉ giúp kiểm soát nhiễm trùng mà còn tăng đáng kể khả năng bảo tồn chức năng và hình thể chi thể.
                                                                                                                                                            Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

BÉ TRAI 10 TUỔI PHẢI NỘI SOI GẮP NHIỀU DỊ VẬT TRONG TAI

Vừa qua, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương đã tiếp nhận một trường hợp bé trai V.H.P. (10 tuổi, trú tại Hà Nội) bị rối loạn tự kỷ kèm tăng động giảm chú ý, tự ý đưa nhiều dị vật vào tai.

Theo gia đình, khoảng 3 ngày trước khi nhập viện, trẻ có biểu hiện ngứa tai và liên tục ngoáy tai. Khi kiểm tra bằng đèn pin, người mẹ phát hiện ống tai ngoài bị bít kín bởi một mảnh giấy vo tròn nằm sâu bên trong nhưng không thể tự lấy ra. Do trẻ không hợp tác, càng ngoáy tai khiến dị vật chui sâu hơn, gia đình buộc phải đưa trẻ đến bệnh viện.

Tại phòng khám Tai Mũi Họng, các bác sĩ đã tiến hành nội soi và gắp dị vật. Kết quả ghi nhận 1 mảnh tăm tre, 3 cục giấy cuộn và một số dị vật nhỏ khác nằm sâu trong ống tai.

Bác sĩ CKI Trịnh Thùy Liên – người trực tiếp xử trí ca bệnh – cho biết, đây là trường hợp may mắn vì các dị vật chưa gây tổn thương đến màng nhĩ. Tuy nhiên, nếu chậm trễ hoặc xử trí không đúng cách, trẻ có nguy cơ cao bị viêm nhiễm, thủng màng nhĩ, thậm chí ảnh hưởng đến thính lực sau này.

Bác sĩ Liên phân tích: Trẻ mắc rối loạn tự kỷ kèm tăng động giảm chú ý thường khó kiểm soát hành vi, hiếu động, thiếu nhận thức về nguy cơ. Vì vậy, trẻ dễ thực hiện các hành vi nguy hiểm như đưa dị vật vào tai, mũi hoặc miệng.

Bác sĩ Liên khuyến cáo, với trẻ tự kỷ tăng động giảm chú ý, trẻ gần như không thể ngồi yên, luôn chuyển động, chạy nhảy, leo trèo và không nhận thức được mức độ nguy hiểm của hành vi. Vì vậy, người lớn cần đặc biệt chú ý: tuyệt đối tránh để trẻ nhỏ chơi một mình với các đồ vật nhỏ như khuy áo, cặp ghim, dây chun, đồ chơi lắp ghép có các  chi tiết nhỏ. Nếu trẻ có biểu hiện bất thường, quấy khóc không rõ nguyên nhân, cần kiểm tra và đưa trẻ đi khám càng sớm càng tốt. Không tự ý sử dụng các dụng cụ lấy dị vật tại nhà vì có thể khiến di vật đi sâu hơn, gây tổn thương nghiêm trọng.

Cần thường xuyên quan sát và kiểm tra kỹ để tránh bỏ sót những di vật tưởng chừng nhỏ bé vô hại nhưng có thể gây nguy hiểm cho trẻ bất cứ lúc nào. Khi nghi ngờ có dị vật, cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa Tai Mũi Họng để được nội soi và xử trí an toàn.

Sự quan sát tỉ mỉ và hành động kịp thời của cha mẹ chính là “lá chắn” tốt nhất bảo vệ thính giác và sự phát triển của trẻ.

                                                                                                                                                           Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

GIỮ ĐƯỢC CHÂN CHO CÔ GÁI TRẺ SAU CÚ CHÈN ÉP KINH HOÀNG CỦA XE TẢI

Mặc dù không bị đứt lìa chi thể sau khi bị xe tải 10 tấn chèn qua, cô gái trẻ vẫn đối mặt nguy cơ phải cắt cụt chân trái. Nguyên nhân là tổn thương lóc da diện rộng, tạo thành một “khoang dịch khổng lồ” chứa gần 2 lít máu và dịch thể bên trong đùi.

Suýt mất chân vì tổn thương “ẩn” sau tai nạn

Khoa Phẫu thuật Tạo hình thẩm mỹ và Liên chuyên khoa – Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương vừa tiếp nhận và điều trị thành công cho bệnh nhân L.K.N (nữ, 25 tuổi, Hà Nội) trong tình trạng chấn thương đặc biệt nặng vùng đùi trái.

Trước đó, chị N. va chạm với xe tải 10 tấn khi đang di chuyển bằng xe máy. Bánh xe tải đã chèn ép và kéo lê vùng đùi trái của chị một đoạn dài. May mắn không cán ngang hoàn toàn nên chị N. thoát khỏi tình trạng đứt rời chân tại chỗ. Ít ai ngờ rằng, tổn thương nghiêm trọng nhất lại không nằm ở phần da bên ngoài. Tuy nhiên, lực xé và sức ép cực lớn từ bánh xe đã gây nên một tổn thương y khoa nghiêm trọng: lóc da ngầm diện rộng.

Sau một tuần điều trị tại tuyến dưới, vùng đùi của bệnh nhân sưng nề biến dạng, kích thước to gấp đôi bên chân lành, xuất hiện mảng hoại tử da lớn. Kết quả chụp MRI cho thấy một khoang trống khổng lồ hình thành giữa lớp da và cơ, chứa đầy dịch viêm và máu thoái hóa.

Khi chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, các bác sĩ ghi nhận toàn bộ vùng đùi trái căng phồng, bên trong là một khoang dịch rất lớn. ThS.BS Nguyễn Ngọc Linh cho biết: “Khi mở khoang lóc, chúng tôi hút ra tới gần 2 lít dịch. Khoang lóc rộng đến mức có thể đưa cả bàn tay người lớn vào bên trong mà vẫn chưa chạm tới đáy. Đây là hệ quả của việc lớp da bị tách rời khỏi tổ chức bên dưới, kết hợp với tình trạng cơ dập nát liên tục tiết dịch.”

Theo bác sĩ Linh, đây là tình trạng vô cùng nguy hiểm. Nếu không được xử lý sớm, khoang dịch này sẽ trở thành môi trường lý tưởng cho vi khuẩn phát triển, gây nhiễm trùng lan tỏa, hoại tử toàn bộ vùng đùi, dẫn đến sốc nhiễm khuẩn và buộc phải cắt cụt chi để bảo toàn tính mạng.

Kỹ thuật hút áp lực âm (VAC) – “Chìa khóa” hồi sinh chi thể

Để cứu đôi chân cho cô gái trẻ, ê-kíp bác sĩ đã thực hiện lộ trình điều trị hai giai đoạn: Giai đoạn đầu, ê-kíp Phẫu thuật cắt lọc da hoại tử, làm sạch khoang lóc và đặt hệ thống hút áp lực âm (VAC). Hệ thống này đóng vai trò như một “máy bơm” liên tục hút dịch tiết từ vùng cơ dập nát, khép kín khoang trống và kích thích mô hạt phát triển. Trong những ngày đầu, lượng dịch rút ra lên tới 200ml mỗi ngày.

Giai đoạn 2 sau hơn một tuần, khi vùng cơ đã ổn định và hết dịch, bác sĩ tiến hành ghép da từ vùng đùi lành sang để che phủ diện tích khuyết hổng.

Sau 2 tuần điều trị tích cực, tình trạng chị N. đã ổn định hoàn toàn. Vùng da ghép sống tốt, khoang lóc đã liền hẳn, không còn tụ dịch. Hiện bệnh nhân đã bắt đầu tập phục hồi chức năng và có thể vận động gần như bình thường trong tương lai gần. Việc giữ lại được chi thể trong những trường hợp chấn thương nặng như vậy không chỉ là thành công về mặt kỹ thuật, mà còn giúp người bệnh tránh được những ám ảnh tâm lý và gánh nặng lâu dài.

BS Linh cho biết, với các tổn thương lóc da diện rộng, việc can thiệp sớm là yếu tố quyết định. Nếu được xử trí kịp thời, kiểm soát tốt khoang dịch và thúc đẩy quá trình liền thương của cơ, có thể bảo tồn chi thể và chức năng vận động. Ngược lại, nếu chậm trễ, nguy cơ nhiễm trùng, hoại tử lan rộng và phải cắt cụt chi là rất cao.

“Đôi khi bên ngoài không có vết thương hở lớn, nhưng bên dưới da là một sự tàn phá nặng nề. Người dân không nên chủ quan khi thấy vùng va chạm sưng nề lớn. Việc can thiệp sớm là yếu tố quyết định để bảo tồn chức năng vận động và tránh các biến chứng hoại tử nguy hiểm, bác sĩ Linh nhấn mạnh.

                                                                                                                                                      Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

4 GIỜ VI PHẪU XUYÊN ĐÊM NỐI LẠI NGÓN TAY SUÝT ĐỨT RỜI CHO NỮ PHỤ HỒ

Đang dọn dẹp sau giờ làm, một phụ nữ phụ hồ ở Hà Nội bất ngờ bị  máy trộn bê tông cuốn chặt bàn tay trái vào dây curoa, khiến ngón giữa gần như đứt lìa. Nhờ được đưa đi cấp cứu kịp thời và trải qua 4 giờ vi phẫu xuyên đêm, các bác sĩ Khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và Liên chuyên khoa đã nối thành công, giữ lại ngón tay cho người bệnh.

Bệnh nhân là chị L.T.Đ (53 tuổi, trú tại Hà Nội), hiện đang làm phụ hồ tại một công trường xây dựng. Theo người thân kể lại vụ tai nạn xảy ra khoảng 17h30, cuối giờ làm việc buổi chiều. Trong lúc dọn dẹp máy trộn bê tông, do sơ suất, găng tay trái của chị Đ. bất ngờ bị dây curoa cuốn chặt, kéo cả bàn tay vào trong máy. Tai nạn khiến ngón III (ngón giữa) tay trái của chị bị đứt gần rời, lộ đầu xương và tổn thương mô mềm nghiêm trọng. Ngay sau đó, chị được các đồng nghiệp đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Theo TS.BS Dương Mạnh Chiến, Phụ trách Khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương: Khi nhập viện bệnh nhân vẫn tỉnh táo nhưng tổn thương ở ngón tay rất phức tạp. Ngón III bị đứt gần hết chu vi ngang khớp liên đốt gần, tổn thương mạch máu hai bên, chỉ còn dính lại một vạt da nhỏ khoảng 0,5cm.

“Hình ảnh đầu ngón tay xẹp lại, trắng nhợt, khi châm kim không có máu rỉ ra là dấu hiệu điển hình của việc ngừng cung cấp máu hoàn toàn đến ngón tay. Kết quả X-quang cho thấy hình ảnh trật khớp liên đốt gần kèm phù nề phần mềm nghiêm trọng.” TS.BS Dương Mạnh Chiến cho biết.

Đáng chú ý, do ngón tay chưa đứt rời hoàn toàn mà vẫn còn dính một phần da nhỏ nên không thể bảo quản lạnh như các trường hợp đứt lìa hoàn toàn. Khi đó, ngón tay rơi vào tình trạng “thiếu máu nóng” – tình trạng cực kỳ nguy hiểm, đe dọa hoại tử ngón tay nếu không được tái thông mạch máu kịp thời trong vòng 6-12 giờ.

Xác định đây là ca cấp cứu đặc biệt ‘tối khẩn’, ê-kíp phẫu thuật nhanh chóng đưa bệnh nhân vào phòng mổ. Trong quá trình phẫu thuật, các bác sĩ ghi nhận tổn thương rất nặng nề: gãy xương ngón III tay trái, trật khớp liên đốt gần, đứt hoàn toàn mạch máu, dây thần kinh hai bên ngón tay cùng toàn bộ hệ thống gân.

“Đây là một trường hợp khó vì vùng tổn thương rộng, phức tạp nhiều thành phần. Không phải vết cắt sắc gọn mà là tổn thương do giằng xé, khiến các mạch máu và dây thần kinh bị dập, đứt thành nhiều đoạn.” – TS. BS Dương Mạnh Chiến chia sẻ.

Dưới kính hiển vi phẫu thuật, ê-kíp phẫu thuật đã tiến hành cố định xương, khâu nối các mạch máu siêu nhỏ để khôi phục nguồn nuôi, đồng thời nối lại dây thần kinh và gân. Sau gần 4 giờ tập trung cao độ, những tín hiệu lạc quan đầu tiên đã xuất hiện: ngón tay dần chuyển sang màu hồng hào, ấm nóng, máu đã lưu thông trở lại bình thường.

Sau 2 ngày hậu phẫu, sức khỏe chị Đ. đã ổn định. Ngón tay nối hồng hào, tưới máu tốt, không có dấu hiệu tím tái hay tắc mạch. Theo phác đồ, bệnh nhân sẽ được rút đinh cố định ngón tay sau 1 tháng và bắt đầu tập luyện vận động trở lại. Tuy nhiên, do dây thần kinh bị đứt hoàn toàn, bệnh nhân cần ít nhất 6 tháng kiên trì tập vật lý trị liệu để phục hồi cảm giác.

Qua trường hợp này, các chuyên gia y tế đưa ra những lưu ý quan trọng trong việc sơ cứu đối với tai nạn đứt rời chi thể: Với trường hợp đứt rời hoàn toàn: Chi thể bị đứt rời cần được làm sạch bằng nước muối sinh lý, bọc vào gạc sạch, cho vào túi nilon buộc kín rồi mới đặt vào thùng đá (tránh để chi thể tiếp xúc trực tiếp với đá lạnh). Thời gian bảo quản có thể kéo dài từ 12 giờ đến 24 giờ.

Với trường hợp đứt gần rời (còn dính da): Không được ướp đá trực tiếp. Cần băng ép cầm máu và chuyển ngay đến cơ sở y tế có chuyên khoa vi phẫu trong “giờ vàng” (trước 12 giờ) để kịp thời cứu sống chi thể.

Bàn tay là bộ phận rất quan trọng trong sinh hoạt và lao động của con người. Việc tuân thủ an toàn lao động và nắm vững kỹ năng sơ cứu không chỉ giúp cứu sống chi thể mà còn bảo toàn khả năng lao động cho người bệnh sau tai nạn.

Ca phẫu thuật của chị Đ. chỉ là một trong số rất nhiều trường hợp tai nạn lao động mà Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương tiếp nhận thời gian qua. Trước đó, các bác sĩ đã từng điều trị cho một bệnh nhân 18 tuổi bị lưỡi máy cắt chém sâu vào tay trái, hay một trường hợp bị lưỡi dập thủy lực rơi trúng chi thể gây dập nát nghiêm trọng. Đáng chú ý là trường hợp anh H., trong lúc điều khiển máy bừa trên ruộng, do lệch tay lái đã bị lưỡi bừa cắt và găm thẳng vào cẳng chân trái.

Những vụ tai nạn này thường xảy ra trong tích tắc nhưng để lại hậu quả nặng nề, thậm chí là tàn phế suốt đời. Theo TS.BS Dương Mạnh Chiến, hầu hết các tai nạn này đều có điểm chung là sự chủ quan trong quá trình vận hành máy móc hoặc thiếu thiết bị bảo hộ lao động cần thiết. Để giảm thiểu rủi ro, người lao động cần lưu ý:

  • Tuyệt đối tuân thủ quy trình vận hành: Không vệ sinh, sửa chữa máy móc khi máy chưa dừng hẳn hoặc chưa ngắt nguồn điện.
  • Sử dụng đồ bảo hộ phù hợp: Trang bị găng tay, quần áo gọn gàng; tránh mặc đồ quá rộng hoặc để tóc dài gần các bộ phận chuyển động như dây curoa, bánh răng.
  • Tập trung cao độ: Cẩn trọng đặc biệt vào cuối giờ làm khi cơ thể đã mệt mỏi.
  • Kiểm tra thiết bị định kỳ: Đảm bảo máy móc luôn có nắp chắn bảo vệ và hoạt động an toàn.

                                                                                                                                                         Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

SUÝT TẮC ĐƯỜNG THỞ VÌ THÓI QUEN NHAI ĐÁ LẠNH GIẢI NHIỆT

Một người đàn ông 66 tuổi tại Hà Nội vừa phải trải qua tình huống nguy kịch do áp xe amidan, gây chít hẹp đường thở cấp tính. Đây được cho là có liên quan đến thói quen uống nước đá và nhai đá lạnh mỗi khi đi nắng hoặc vận động mạnh.

Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương vừa tiếp nhận và điều trị thành công cho bệnh nhân N.V.T (66 tuổi, Hà Nội) nhập viện trong tình trạng suy hô hấp, khó thở nghiêm trọng. Theo người nhà, ông T. có thói quen nhai đá viên để giải nhiệt nhanh sau mỗi lần đi đánh bóng hoặc đi ngoài trời nắng về.

Hai ngày trước khi nhập viện, ông bắt đầu đau họng, đau amidan kèm sốt cao. Chỉ sau một ngày, tình trạng nhanh chóng chuyển nặng, ông xuất hiện triệu chứng khó nuốt, khó thở và được người nhà đưa đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cấp cứu.

Bác sĩ Trịnh Thùy Liên, chuyên khoa Tai Mũi Họng, Trung tâm Khám chữa bệnh theo yêu cầu và Quốc tế, người trực tiếp điều trị cho biết: Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng niêm mạc họng viêm đỏ, lưỡi gà nề mọng. Khối phồng có điểm mủ trắng đẩy phồng thành bên họng, viêm phù nề lan tỏa toàn bộ thanh quản. Đặc biệt, nắp thanh thiệt phù nề hình ‘mõm cá mè’, khiến khe thở thanh môn bị chít hẹp, ứ đọng nhiều đờm rãi.

Kết quả xét nghiệm cho thấy tình trạng nhiễm trùng nghiêm trọng: Số lượng bạch cầu tăng cao, định lượng CRP (chỉ số viêm) tăng lên 55.1 mg/L. Chụp cắt lớp vi tính cho thấy xuất hiện ổ áp xe quanh amidan trái kích thước lên tới 16×41 mm, kèm theo các tổn thương vôi hóa gây hẹp vùng hầu họng và đường thở. Bệnh nhân được chẩn đoán áp xe quanh amidan trái thể dưới, viêm phù nề thanh thiệt cấp.

Theo Bác sĩ Trịnh Thùy Liên, đây là ca bệnh khó do bệnh nhân lớn tuổi, ổ áp xe nằm ở vị trí phức tạp (thể dưới) và đường thở đã bị chít hẹp gần như hoàn toàn. Việc đặt ống thở qua đường miệng để gây mê phẫu thuật đối mặt với nguy cơ thất bại cao. “Nếu không đặt được ống thở, chúng tôi buộc phải mở nội khí quản qua da để hỗ trợ thở máy. Rất may, nhờ kinh nghiệm xử trí, ê-kíp đã đặt nội khí quản thành công, tạo điều kiện thuận lợi để chích rạch, dẫn lưu ổ áp xe”, Bác sĩ Trịnh Thùy Liên chia sẻ.

Sau 5 ngày điều trị tích cực và thực hiện thủ thuật chích dẫn lưu ổ áp xe, sức khỏe của ông T. đã hồi phục ổn định và được xuất viện.

Các bác sĩ cho biết, khi cơ thể đang nóng sau vận động hoặc đi nắng, việc uống nước đá lạnh đột ngột có thể tạo ra sự chênh lệch nhiệt độ lớn tại vùng họng. Điều này khiến niêm mạc họng và amidan bị kích thích mạnh, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển, gây viêm và hình thành ổ áp xe.

Các chuyên gia y tế khuyến cáo người dân nên từ bỏ thói quen nhai đá, uống nước lạnh thường xuyên vì việc này không chỉ ảnh hưởng tới răng miệng mà còn làm tăng nguy cơ viêm họng, viêm amidan kéo dài và các biến chứng như áp xe quanh amidan. Đặc biệt không uống nước quá lạnh khi vừa đi nắng về. Nên uống nước ấm hoặc nước lọc ở nhiệt độ phòng, uống từng ngụm nhỏ để cơ thể thích nghi dần. Với trường hợp của ông T., sau 1 tháng khi tình trạng viêm ổn định, ông cần thực hiện phẫu thuật cắt amidan để triệt tiêu nguy cơ tái phát.

Áp xe amidan thể dưới là một biến chứng nguy hiểm. Nếu người dân thấy các dấu hiệu đau họng kèm khó nuốt, khó thở và sốt cao, cần đến ngay các cơ sở y tế chuyên khoa để được xử lý kịp thời, tránh nguy cơ suy hô hấp dẫn đến tử vong.

Các bác sĩ cũng lưu ý, nhiều người chủ quan với triệu chứng đau họng, tự mua thuốc điều trị tại nhà hoặc cố chịu đựng nên khi nhập viện, ổ áp xe đã lan rộng, gây nguy cơ tắc nghẽn đường thở. Đặc biệt ở người cao tuổi, người có bệnh nền hoặc viêm amidan mạn tính, biến chứng có thể tiến triển nhanh và nguy hiểm hơn. Vì vậy, khi đau họng kéo dài kèm sốt cao, nói khó, nuốt đau hoặc khó thở, người bệnh cần đi khám sớm, tránh tự điều trị khiến bệnh diễn biến nặng.

                                                                                                                                                   Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

HY HỮU GIA ĐÌNH 3 THẾ HỆ NAM GIỚI MẮC RÒ LUÂN NHĨ

Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương vừa phẫu thuật thành công ca bệnh rò luân nhĩ hai bên tai cho một bệnh nhi 6 tuổi. Điều đáng chú ý là yếu tố gia đình rất đậm nét, phản ánh rõ rệt tính chất di truyền của dị tật bẩm sinh này qua 3 thế hệ nam giới.

Bệnh nhi N.V (6 tuổi, trú tại Lào Cai) nhập viện trong tình trạng có lỗ rò luân nhĩ bẩm sinh xuất hiện ở vùng trước vành tai cả hai bên. Qua khai thác tiền sử gia đình, các bác sĩ ghi nhận cả 3 thế hệ nam giới trong gia đình, từ đời ông nội đến đời cháu, đều mang dị tật này và đều đã phải can thiệp phẫu thuật bóc tách đường rò. Bản thân bệnh nhi V. là thành viên thứ 4 trong gia đình ghi nhận dị tật này.

Theo lời kể của người nhà, hai lỗ rò trước tai của cháu V. thường xuyên tiết ra chất bã đậu màu trắng, chảy dịch có mùi hôi và gây ngứa ngáy khó chịu khi bị bít tắc. Nhận thấy lỗ rò tạm thời khô ráo, không sưng viêm cấp tính, gia đình đã chủ động đưa cháu đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương để phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn đường rò hai bên. Việc can thiệp sớm này nhằm triệt tiêu nguy cơ tái viêm nhiễm và áp-xe nguy hiểm – biến chứng mà người anh trai (12 tuổi) của cháu từng gặp phải trước đây.

Bác sĩ chuyên khoa I Trịnh Thùy Liên, chuyên khoa Tai Mũi Họng (Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương) cho biết, sau quá trình phẫu thuật bóc tách tỉ mỉ, toàn bộ đường rò, một phần màng sụn vành tai ở đáy xoang và phần sụn sát chân đường rò đã được loại bỏ nhằm triệt tiêu hoàn toàn chân rò. Sau hơn 1 giờ, ca mổ loại bỏ lỗ rò luân nhĩ hai bên tai cháu V. đã thành công tốt đẹp.

“Sau 1 ngày phẫu thuật, tình trạng của cháu V. ổn định, tỉnh táo, các chỉ số sinh tồn bình thường và không sốt. Vết mổ khô sạch, không sưng nề, đau ít, bệnh nhân không cần dùng thuốc giảm đau sau mổ”, bác sĩ Liên thông tin.

Rò luân nhĩ là một dị tật bẩm sinh lành tính, hình thành do sự hợp nhất không hoàn chỉnh của các gờ cấu tạo nên tai ngoài trong khoảng tuần thứ 6 của thai kỳ. Dị tật này biểu hiện là một lỗ nhỏ ở vùng trước vành tai, đi sâu vào trong và bám vào màng sụn tai.

Rò luân nhĩ được ghi nhận có liên quan đến yếu tố di truyền ở một số trường hợp. Dị tật này có xu hướng di truyền theo tính trạng trội trên nhiễm sắc thể thường nhưng có hiện tượng độ thấm không hoàn toàn. Điều này lý giải vì sao kiểu hình này có thể lặp lại liên tục hoặc nhảy vọt qua các thành viên, và trong trường hợp đặc biệt của gia đình bệnh nhi V., dị tật đã biểu hiện liên tục ở các thành viên nam qua 3 thế hệ.

Mặc dù rò luân nhĩ là dị tật lành tính, song bên trong lỗ rò lại là một hệ thống ống lót bằng biểu mô có khả năng bài tiết dịch. Nếu không được vệ sinh đúng cách, dịch tích tụ lâu ngày sẽ dẫn đến nhiễm trùng, hóa mủ hoặc hình thành khối áp-xe.

BSCKI Trịnh Thùy Liên khuyến cáo, việc theo dõi sát sao biểu hiện của lỗ rò là cực kỳ quan trọng. Tình trạng viêm nhiễm tái diễn nhiều lần không chỉ gây đau đớn mà còn có nguy cơ như viêm tấy, áp xe quanh lỗ rò, viêm sụn vành tai, tiêu sụn thậm chí dị hình vành tai, viêm tắc tĩnh mạch xoang và liệt mặt. Khi lỗ rò có dấu hiệu chảy dịch hôi, sưng, nóng, đỏ, đau, gia đình cần đưa trẻ đến ngay các cơ sở y tế chuyên khoa để được thăm khám. Thời điểm lý tưởng nhất để phẫu thuật điều trị triệt để là khi tổn thương đã qua giai đoạn viêm cấp tính.

                                                                                                                                                       Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội.

TÁI TẠO VÚ SAU PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Khoa Phẫu thuật Thẩm mỹ tạo hình và Liên chuyên khoa – Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Số điện thoại khoa: 0961.265.488

I. ĐẠI CƯƠNG:

Ung thư vú là bệnh lý ác tính phổ biến nhất ở phụ nữ. Phẫu thuật cắt bỏ vú toàn phần hoặc một phần là bước điều trị cơ bản giúp kiểm soát khối u, nhưng đồng thời gây mất mô tuyến vú, biến dạng vùng ngực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý, hình thể và chất lượng sống của người bệnh.
Tái tạo vú (breast reconstruction) là phẫu thuật nhằm khôi phục hình dạng, thể tích và thẩm mỹ của vú sau điều trị ung thư, có thể thực hiện ngay sau mổ cắt vú (immediate reconstruction) hoặc trì hoãn sau một thời gian (delayed reconstruction). Mục tiêu là giúp bệnh nhân phục hồi về cả thể chất lẫn tinh thần.

II. CĂN NGUYÊN VÀ CHỈ ĐỊNH TÁI TẠO:

Tái tạo vú không điều trị ung thư mà là bước phục hồi sau điều trị triệt căn, chỉ thực hiện khi:

  • Bệnh nhân đã được điều trị ổn định, không còn khối u tồn dư.
  • Không có chống chỉ định toàn thân nặng (như bệnh tim mạch, đái tháo đường mất kiểm soát).
  • Có nhu cầu và tâm lý sẵn sàng.

Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn kỹ thuật:

  • Phạm vi cắt bỏ (toàn phần hay một phần).
  • Tình trạng da ngực, mô mềm còn lại.
  • Bệnh nhân có xạ trị sau mổ hay không.
  • Nguồn mô tự thân sẵn có (bụng, lưng, đùi…).

III. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ NHU CẦU THẨM MỸ:

Sau cắt vú, bệnh nhân thường có:

  • Mất hoàn toàn thể tích vú, sẹo dính, biến dạng ngực.
  • Mất cân xứng giữa hai bên.
  • Ảnh hưởng nặng nề về tâm lý, mặc cảm hình thể.
    Tái tạo giúp khôi phục dáng ngực, phục hồi hình ảnh cơ thể và tự tin trong sinh hoạt, giao tiếp, đời sống vợ chồng.

IV. CHẨN ĐOÁN VÀ ĐÁNH GIÁ TRƯỚC MỔ:

  • Khám lâm sàng: đánh giá sẹo, mô da còn lại, cơ ngực lớn, mô vùng cho vạt (bụng, lưng, đùi…).
  • Cận lâm sàng:
    • Siêu âm, MRI ngực để loại trừ tái phát.
    • Đánh giá mạch máu vùng cho vạt (CT angiography).
    • Xét nghiệm tổng quát, chức năng tim phổi.
  • Đánh giá tâm lý và thẩm mỹ: giúp bệnh nhân hiểu rõ kỳ vọng, kết quả và nguy cơ.

V. ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT: 

  1. Phân loại thời điểm tái tạo
  • Tái tạo tức thì: thực hiện ngay sau phẫu thuật cắt vú.
    • Ưu điểm: giữ da vú, thẩm mỹ tốt, giảm số lần mổ.
    • Nhược điểm: khó trong trường hợp cần xạ trị sau mổ.
  • Tái tạo trì hoãn: thực hiện sau khi hoàn tất điều trị ung thư.
    • Ưu điểm: an toàn hơn, dễ đánh giá mô sẹo.
    • Nhược điểm: cần mổ lần 2.
  1. Các phương pháp tái tạo

a. Dùng mô tự thân:

  • Vạt cơ lưng rộng (latissimus dorsi flap): dễ thực hiện, mô ổn định, có thể kết hợp túi độn.
  • Vạt bụng (TRAM, DIEP flap): cho thể tích lớn, dáng tự nhiên, không cần vật liệu nhân tạo.
  • Vạt đùi, mông: dùng khi không có mô bụng hoặc lưng.

b. Dũng túi độn (implant):

  • Thường dùng túi silicon hoặc nước muối sinh lý.
  • Kỹ thuật đặt dưới cơ ngực lớn hoặc dưới da (nếu da đủ dày).
  • Có thể cần tạo khoang dãn mô (tissue expander) trước khi đặt túi vĩnh viễn.

c. Kết hợp mô tự thân và túi độn:

  • Áp dụng khi mô tự thân không đủ che phủ hoàn toàn.

d. Tái tạo quầng – núm vú:

  • Thực hiện sau khi vú ổn định (sau 3–6 tháng).
  • Dùng ghép da, xăm y học, hoặc vạt tại chỗ.

VI. CHĂM SÓC SAU MỔ VÀ THEO DÕI:

  • Giữ tư thế nửa nằm nửa ngồi để giảm căng vạt.
  • Dẫn lưu hút liên tục, rút khi lượng dịch <30 ml/ngày.
  • Kiểm soát đau, phòng nhiễm trùng, chăm sóc vết mổ nhẹ nhàng.
  • Theo dõi màu sắc, nhiệt độ, tưới máu của vạt.
  • Duy trì khám định kỳ, kết hợp theo dõi ung thư tái phát.

VII. TIÊN LƯỢNG VÀ BIẾN CHỨNG:

Kết quả tái tạo vú hiện nay đạt tỷ lệ thành công cao, trên 90%.
Biến chứng có thể gặp:

  • Hoại tử một phần vạt, tụ dịch, nhiễm trùng.
  • Co thắt bao xơ quanh túi độn.
  • Mất cân đối hai bên vú, cần chỉnh sửa bổ sung.
    Tiên lượng: tốt nếu lựa chọn kỹ thuật phù hợp, chăm sóc sau mổ đúng và bệnh nhân tuân thủ theo dõi lâu dài.

VIII. NHỮNG ĐIỂM CHÍNH:

  • Tái tạo vú giúp phục hồi hình thể và tâm lý sau phẫu thuật ung thư vú.
  • Có thể thực hiện tức thì hoặc trì hoãn tùy tình trạng bệnh nhân.
  • Lựa chọn kỹ thuật dựa trên tình trạng mô, tiền sử xạ trị, và nguyện vọng bệnh nhân.
  • Cần phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ ung bướu và bác sĩ tạo hình để tối ưu hiệu quả điều trị.

IX: TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Cordeiro PG. Breast reconstruction after surgery for breast cancer. N Engl J Med. 2008;359(15):1590–1601.
  2. Nahabedian MY. Overview of autologous flap breast reconstruction after mastectomy. Clin Plast Surg. 2007;34(1):75–88.
  3. Santosa KB, Qi J, Kim HM, et al. Long-term patient-reported outcomes in postmastectomy breast reconstruction. JAMA Surg. 2018;153(10):891–899.
  4. Salgarello M, Visconti G, Barone-Adesi L. Update on the indications for breast reconstruction with implants and expanders. Gland Surg. 2021;10(1):243–252.