Skip to main content
Liên hệ ngay với chúng tôi để được
tư vấn và đặt lịch khám sớm.
Email: bvnhietdoitw@nhtd.vnPhone: 0395.135.099

Hotline: 0395.135.099

Tác giả: Khuất Kiều Trang

VIÊM NÃO NHẬT BẢN: TỪ SỐT, ĐAU ĐẦU ĐẾN HÔN MÊ CHỈ TRONG VÀI NGÀY

Khởi đầu chỉ với sốt và đau đầu tưởng chừng thông thường, viêm não Nhật Bản có thể diễn tiến nhanh, gây rối loạn ý thức, co giật, hôn mê, yếu liệt một phần hay toàn bộ cơ thể, thậm chí đe dọa tính mạng và để lại di chứng thần kinh lâu dài. Khi bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, việc phòng bệnh bằng vaccine và nhận biết sớm các dấu hiệu cảnh báo có vai trò đặc biệt quan trọng.

Chỉ sốt và đau đầu: Bệnh nhi rơi vào hôn mê chỉ sau 2 ngày

Khoa Nhi, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương tiếp nhận điều trị nhiều bệnh nhi mắc viêm não Nhật Bản, trong đó có những trường hợp nhập viện khi bệnh đã diễn biến nặng. Điển hình là một bệnh nhi khởi phát chỉ với sốt, đau đầu nhưng nhanh chóng chuyển nặng, phải hồi sức tích cực và thở máy.

Theo gia đình, cháu G.A.D (9 tuổi ở Lào Cai) ban đầu  xuất hiện sốt và đau đầu. Sau một ngày sử dụng thuốc hạ sốt nhưng tình trạng không cải thiện vẫn sốt cao liên tục. đau đầu tăng kèm theo nôn và buồn nôn, gia đình đưa trẻ đến bệnh viện tuyến huyện thăm khám và điều trị. Tuy nhiên, chỉ một ngày sau, ý thức trẻ chậm chạp dần, không nói được, không ăn uống và dần đi vào hôn mê nên được các bác sỹ chuyển lên bệnh viện tuyến tỉnh. Tại đây, trẻ được chẩn đoán viêm não và tiếp tục được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Tại BV Nhiệt đới TƯ trẻ được chẩn đoán viêm não nhật bản, tại thời điểm nhập viện trẻ đã trong tình trạng hôn mê, suy hô hấp và yếu liệt tứ chi. Trẻ đã được hồi sức tích cực, chống viêm, chống phù não và được đặt ống thở máy để hỗ trợ hô hấp.  “Lúc bác sĩ thông báo tình trạng của con rất nặng, gia đình vô cùng lo lắng. Chúng tôi đặc biệt sợ vì biết bệnh có thể đe dọa tính mạng và để lại di chứng”, bố bệnh nhi chia sẻ.

BSNT Lê Thị Thu Hiền, Khoa Nhi, cho biết bệnh nhi đã điều trị tại bệnh viện khoảng 2 tuần. Thời điểm nhập viện, trẻ trong tình trạng rất nặng, hôn mê, phải đặt ống nội khí quản và thở máy. Các bác sĩ tiến hành hồi sức tích cực, hỗ trợ hô hấp, sử dụng thuốc chống viêm, chống phù não và theo dõi sát các biến chứng thần kinh.

Sau hai tuần điều trị, ý thức của trẻ đã cải thiện rõ rệt. Bệnh nhi tỉnh táo hơn, có thể tự thở và đã cai máy thở thành công.

Tuy nhiên, theo bác sĩ, đây vẫn chưa phải thời điểm có thể chủ quan. Cơ lực toàn thân của trẻ còn yếu và cần tiếp tục được theo dõi sát nguy cơ xuất hiện các biến chứng, di chứng thần kinh như động kinh. Khả năng ho, khạc của trẻ vẫn còn kém, do đó vẫn có nguy cơ suy hô hấp, thậm chí phải đặt lại ống nội khí quản và hỗ trợ thở máy nếu tình trạng hô hấp không đảm bảo.

Dễ nhầm với bệnh nhiễm virus thông thường

Theo các bác sĩ, viêm não Nhật Bản là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây ra, ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thần kinh trung ương. Bệnh lây truyền sang người qua muỗi mang virus. Tại Việt Nam, bệnh thường gia tăng vào mùa hè, khi thời tiết nóng ẩm tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi phát triển. Đây cũng là thời điểm người dân cần đặc biệt lưu ý các bệnh viêm não do virus.

Điều đáng lo ngại là những biểu hiện ban đầu của viêm não Nhật Bản thường không đặc hiệu. Trẻ có thể chỉ sốt cao đột ngột, đau đầu, mệt mỏi, ăn uống kém – những triệu chứng dễ khiến gia đình nhầm với các bệnh nhiễm virus thông thường. TS.BS Đặng Thị Thúy – Trưởng Khoa Nhi cho biết, ở trẻ lớn đau đầu là triệu chứng trẻ có thể mô tả được, trong khi đó trẻ nhỏ không nói được thường chỉ biểu hiện bằng quấy khóc một cách bất thường, ăn uống kém. Tùy diễn biến từng thể bệnh, sau vài giờ đến vài ngày biểu hiện bệnh rõ hơn, trẻ đau đầu tăng, nôn nhiều hoặc nôn tăng kèm theo thay đổi về ý thức hoặc hành vi như co giật, ngủ li bì khó đánh thức, nặng hơn là lờ đờ, hôn mê. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời trẻ nhanh chóng chuyển nặng như suy hô hấp, suy tuần hoàn và đe dọa tới tính mạng.

Chưa có thuốc điều trị đặc hiệu: Phòng bệnh là yếu tố then chốt

TS.BS Đặng Thị Thúy nhấn mạnh, hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với viêm não Nhật Bản. Khi bệnh xảy ra, biện pháp can thiệp chủ yếu là điều trị hỗ trợ và hồi sức, tích cực chống phù não, phòng co giật, hỗ trợ hô hấp, phát hiện và xử trí sớm các biến chứng nhằm giúp người bệnh vượt qua giai đoạn nguy hiểm, hạn chế các biến chứng.

Ngay cả khi được cứu sống, khoảng 50% số trẻ vẫn phải đối mặt với các di chứng về tâm thần, vận động và hòa nhập xã hội, nên cần được theo dõi lâu dài cùng với phục hồi chức năng.

“Vì vậy, phòng bệnh có vai trò đặc biệt quan trọng. Cha mẹ cần đưa trẻ tiêm vaccine viêm não Nhật Bản đầy đủ, đúng lịch, đồng thời chủ động phòng muỗi đốt và vệ sinh môi trường, hạn chế các khu vực muỗi sinh sản”, TS.BS Đặng Thị Thúy khuyến cáo.

Cần lưu ý, khi trẻ có biểu hiện sốt, đau đầu, kèm theo các biểu hiện bất thường như quấy khóc bất thường, li bì, khó đánh thức, co giật, yếu hoặc liệt tay chân, gia đình cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để được thăm khám kịp thời.

Phát hiện sớm và điều trị tích cực có ý nghĩa quan trọng trong kiểm soát các biến chứng, hạn chế nguy cơ tổn thương thần kinh nặng và bảo vệ tính mạng của trẻ.

 

Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội

SUY KIỆT, NHIỄM KHUẨN HUYẾT VÌ LẠM DỤNG THUỐC CHỨA CORTICOID KÉO DÀI

Trung tâm Hồi sức tích cực – Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương đang điều trị cho nam bệnh nhân T.V.M (77 tuổi, trú tại Thanh Hóa) trong tình trạng nhiễm khuẩn huyết nặng trên nền suy thượng thận do lạm dụng corticoid kéo dài. Bệnh nhân nhập viện khi thể trạng suy kiệt nghiêm trọng, tiên lượng rất dè dặt.
Theo ThS.BS Hà Việt Huy – bác sĩ điều trị trực tiếp cho ông M. có tiền sử đau khớp mạn tính hơn 10 năm, thường xuyên tự ý sử dụng các loại thuốc không rõ nguồn gốc có pha trộn corticoid để giảm đau. Việc dùng thuốc kéo dài không theo đơn, không kiểm soát liều lượng đã dẫn đến tình trạng ức chế tuyến thượng thận, gây suy thượng thận và làm suy giảm hệ miễn dịch.
Gần một tháng trước nhập viện, bệnh nhân xuất hiện nhọt lớn vùng sau gáy, sốt cao liên tục 39–40°C, mệt mỏi và lơ mơ. Dù đã điều trị kháng sinh tại cơ sở y tế địa phương trong khoảng 20 ngày, tình trạng không cải thiện, bệnh nhân tình trạng nhiễm trùng không cải thiện, ý thức xấu dần. Xét nghiệm cấy máu xác định nhiễm tụ cầu vàng đa kháng (MRSA) – loại vi khuẩn nguy hiểm có khả năng đề kháng cao với nhiều loại kháng sinh thông thường.
Khi chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, bệnh nhân rơi vào tình trạng suy hô hấp nặng, rối loạn toan chuyển hóa nặng, phải đặt nội khí quản, thở máy dẫn lưu ổ mủ và hồi sức tích cực. Hiện bệnh nhân vẫn sốt, dù có đáp ứng bước đầu nhưng tiên lượng rất nặng do nền bệnh quá nặng và miễn dịch suy giảm trầm trọng.
BS Huy cảnh báo: “Đây là hậu quả điển hình của tình trạng lạm dụng corticoid trong cộng đồng, nhất là thông qua các bài thuốc dân gian không rõ nguồn gốc, không định lượng. Dùng lâu dài, corticoid không chỉ gây suy tuyến nội tiết mà còn phá vỡ hệ thống miễn dịch, tạo điều kiện cho nhiễm trùng nặng và nhiều biến chứng nguy hiểm.”
Qua trường hợp bệnh nhân M, bác sĩ Huy khuyến cáo người dân tuyệt đối không tự ý sử dụng thuốc giảm đau kéo dài nếu chưa được bác sĩ thăm khám. Những loại thuốc “uống vào thấy đỡ ngay” nhưng không rõ thành phần, không có đơn kê chỉ mang lại hiệu quả tức thời, trong khi có thể âm thầm phá hoại nội tiết và miễn dịch, dẫn tới hậu quả khôn lường khi bệnh bùng phát.

MẤT CON VÌ HỘI CHỨNG BUDD–CHIARI HIẾM GẶP

Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương vừa tiếp nhận và điều trị một trường hợp hiếm gặp. Bệnh nhân là chị T. T. T, 33 tuổi, trú tại Bắc Ninh, được chuyển đến bệnh viện sau phẫu thuật để theo dõi và tìm nguyên nhân tổn thương gan.
Trước đó, thai phụ mang thai lần thứ ba ở tuần thai thứ 26, nhập viện tại một bệnh viện chuyên khoa sản trong tình trạng đau bụng, bụng to nhanh bất thường và nổi rõ tuần hoàn bàng hệ vùng thượng vị. Bệnh nhân được chẩn đoán viêm phúc mạc và được chỉ định mổ cấp cứu. Trong quá trình phẫu thuật, các bác sĩ phát hiện gan to, bề mặt thô sần, màu sẫm, có dịch đục trong ổ bụng. Thai nhi không thể cứu được do suy thai cấp. Sau mổ, bệnh nhân được chuyển tới Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương để tiếp tục điều trị và tìm nguyên nhân gây tổn thương gan.
Tại đây, kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI bụng có tiêm thuốc) cho thấy gan to, xơ hóa, ngấm thuốc không đồng đều ở thì tĩnh mạch; tĩnh mạch gan giãn, hẹp đoạn đổ vào tĩnh mạch chủ dưới. Tuần hoàn bàng hệ vùng thượng vị phát triển rõ, lách to (143mm), thành túi mật dày. Không ghi nhận huyết khối lớn hay dịch ổ bụng tự do. Hình ảnh gợi ý hội chứng Budd–Chiari – một tình trạng hiếm gặp do tắc nghẽn dòng chảy máu ra khỏi gan, thường là do cục máu đông (huyết khối) làm hẹp hoặc tắc nghẽn các tĩnh mạch gan hoặc tĩnh mạch chủ dưới
Bác sĩ Nguyễn Thị Thu Huyền – Trung tâm Khám chữa bệnh Quốc tế và theo yêu cầu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương – cho biết: “Dựa vào diễn tiến lâm sàng và hình ảnh học, chúng tôi xác định bệnh nhân mắc hội chứng Budd–Chiari trên nền thai kỳ, kèm theo các biến chứng nặng như tăng áp lực tĩnh mạch cửa, cổ trướng, viêm phúc mạc và suy thai cấp. Đáng chú ý, người phụ nữ này từng hai lần sảy thai không rõ nguyên nhân. Chúng tôi nghi ngờ bệnh nhân có rối loạn đông máu tiềm ẩn chưa được phát hiện.”
Theo bác sĩ Huyền, hội chứng Budd–Chiari là tình trạng tắc nghẽn dòng máu từ gan về tim, thường do huyết khối trong lòng tĩnh mạch gan hoặc do các khối chèn ép như u, nang. Đây là bệnh lý hiếm gặp nhưng nguy hiểm, có thể gây suy gan cấp và đe dọa tính mạng nếu không được chẩn đoán, điều trị kịp thời. Trong thai kỳ, bệnh có thể tiến triển âm thầm nhưng hậu quả rất nặng nề.
Khoảng 80% bệnh nhân Budd–Chiari có liên quan đến các rối loạn đông máu như tăng sinh tủy, ung thư (gan, thận, tuyến thượng thận, nhĩ phải…), u lành tính trong gan, phình động mạch chủ bụng và đặc biệt là thai kỳ hoặc sử dụng thuốc tránh thai – chiếm tới 20% số ca phát hiện bệnh. Nguyên nhân có thể gặp thường thấy ở Châu Á và Nam Phi là bất thường cấu trúc bẩm sinh: bao gồm màng chắn (web) trong tĩnh mạch chủ dưới, hoặc các bất thường bẩm sinh khác của tĩnh mạch gan.
Bác sĩ Nguyễn Thị Thu Huyền thăm khám cho bệnh nhân
“Trong quá trình mang thai, cơ thể phụ nữ có xu hướng tăng đông để chuẩn bị cho quá trình sinh nở. Nếu sản phụ có sẵn yếu tố rối loạn đông máu mà không được phát hiện, nguy cơ tắc mạch – đặc biệt là tại các mạch máu lớn như tĩnh mạch gan – là hoàn toàn có thể xảy ra,” bác sĩ Huyền nhấn mạnh.
Bác sĩ Huyền khuyến cáo, phụ nữ mang thai có tiền sử sảy thai liên tiếp, thai lưu không rõ nguyên nhân, tiền sản giật sớm hoặc người thân từng bị thuyên tắc mạch nên được tầm soát rối loạn đông máu trước và trong thai kỳ. Khi có các dấu hiệu như bụng to nhanh, đau vùng gan, vàng da, phù chân hoặc mệt mỏi kéo dài, cần đến bệnh viện kiểm tra sớm. Việc điều trị hội chứng Budd–Chiari đòi hỏi phối hợp nhiều chuyên khoa, bao gồm gan mật, sản khoa và huyết học và chẩn đoán hình ảnh, để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và thai nhi.