Skip to main content
Liên hệ ngay với chúng tôi để được
tư vấn và đặt lịch khám sớm.
Email: bvnhietdoitw@nhtd.vnPhone: 0395.135.099
Đặt lịch khám
Hotline: 0395.135.099

Tác giả: Khuất Kiều Trang

VẾT THƯƠNG ĐÃ LIỀN, VẪN CÒN MẢNH TRE 3 CM: NGƯỜI PHỤ NỮ 67 TUỔI LẠI XUẤT HIỆN CO CỨNG DO UỐN VÁN

Khoảng hai tháng sau lần bị thanh tre đâm vào cẳng chân khi đi làm đồng, người phụ nữ 67 tuổi đã trải qua một đợt bệnh uốn ván nguy kịch và nhưng cuối cùng cũng đã vượt qua và được xuất viện về nhà. Tuy nhiên, gần 20 ngày sau khi ra viện, bệnh nhân lại xuất hiện tình trạng cứng hàm, sau đó co cứng lan xuống ngực, bụng và toàn thân, phải đặt nội khí quản cấp cứu, thở máy. Đáng chú ý, trong đợt bệnh này, vết thương bên ngoài mặc dù đã đóng vảy, không sưng đỏ nhưng siêu âm phát hiện bên trong vẫn còn sót một mảnh tre dài khoảng 3 cm.

ThS.BS Lê Sơn Việt, Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cho biết, bệnh nhân là bà B.T.T, 67 tuổi ở Phú Thọ trước đó không ghi nhận bệnh lý nền đặc biệt. Khoảng hai tháng trước, trong lúc đi làm đồng, người bệnh bị một thanh tre đâm vào cẳng chân trái. Sau tai nạn, bệnh nhân chủ quan, không đi kiểm tra kỹ vết thương và không tiêm phòng uốn ván.

Sau đó, người bệnh tiến triển bệnh cảnh uốn ván điển hình (cứng hàm, co cứng cơ toàn thân) và được nhập viện điều trị tại một cơ sở y tế khác. Trong đợt điều trị này, bệnh nhân đã phải mở khí quản, thở máy dài ngày và sau đó tình trạng co cứng dần cải thiện. Khi ra viện, các cơn co cứng gần như không còn, người bệnh đã rút được canuyn mở khí quản. Tuy vậy, chỉ sau gần 20 ngày kể từ khi xuất viện, bệnh nhân bắt đầu xuất hiện cứng hàm trở lại. Không chỉ cứng hàm, tình trạng co cứng tiếp tục lan xuống các cơ vùng ngực, bụng rồi toàn thân, diễn biến tương tự thời điểm khởi phát của đợt bệnh trước. Người bệnh được đưa đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Khi nhập viện Khoa Cấp cứu, bệnh nhân xuất hiện nhiều cơn gồng cứng toàn thân. Co cứng các cơ vùng ngực khiến người bệnh không thể tự thở được, chuyên môn còn gọi là dấu hiệu “chẹn ngực”. Các bác sĩ đã phải đặt nội khí quản cấp cứu, thở máy và sử dụng thuốc an thần liều cao để kiểm soát các cơn co cứng.

Theo ThS.BS Lê Sơn Việt, uốn ván là bệnh do độc tố của vi khuẩn Clostridium tetani gây ra. Độc tố tác động lên hệ thần kinh, gây tăng trương lực cơ và các cơn co cứng đặc trưng. Người bệnh có thể khởi đầu bằng mỏi hàm, khó há miệng hoặc cứng hàm, sau đó co cứng lan xuống cổ, ngực, bụng và toàn thân.

Ở những trường hợp nặng, co cứng cơ hô hấp hoặc các cơn gồng dữ dội có thể khiến bệnh nhân không thể tự thở được, đe dọa tính mạng nếu không được kiểm soát kịp thời.

“Bệnh nhân vào viện trong tình trạng cứng hàm và gồng cứng toàn thân nhiều. Khi các cơ vùng ngực co cứng, người bệnh không tự thở được nên phải đặt nội khí quản, thở máy khẩn cấp”, ThS.BS Lê Sơn Việt cho biết.

Điều khiến các bác sĩ phải tiếp tục tìm kiếm yếu tố liên quan là sau đợt điều trị trước, bệnh nhân không xuất hiện thêm vết thương mới. Trong khi đó, vị trí thanh tre từng đâm vào cẳng chân đã đóng vảy, bên ngoài không sưng đỏ và không có biểu hiện nhiễm trùng rõ ràng. Các bác sĩ tiến hành kiểm tra lại vị trí vết thương cũ. Qua siêu âm, một dị vật nằm trong mô cẳng chân được phát hiện.Vết thương được rạch mở và ê-kíp lấy ra một mảnh tre dài khoảng 3 cm còn sót lại.

Theo ThS.BS Lê Sơn Việt, đây là chi tiết rất đáng lưu ý ở trường hợp này. Một vết thương đã khô, đóng vảy, thậm chí không còn sưng đỏ không đồng nghĩa bên trong chắc chắn không còn dị vật. Đặc biệt với những vật liệu như tre, gỗ, gai có khả năng gãy khi đâm vào cơ thể, một phần dị vật có thể nằm lại sâu trong mô và khó nhận biết nếu chỉ quan sát bên ngoài.

Đối với uốn ván, bào tử Clostridium tetani có thể xâm nhập cơ thể qua vết thương. Trong điều kiện thuận lợi tại mô tổn thương, đặc biệt ở những vùng có mô dập nát, hoại tử hoặc còn dị vật, vi khuẩn có thể phát triển và sinh độc tố.

Vì vậy, xử trí tốt vết thương và loại bỏ dị vật nếu có là một phần quan trọng trong quá trình điều trị, bên cạnh điều trị đặc hiệu, cần sử dụng các thuốc để kiểm soát tình trạng co cứng cơ, bảo đảm hô hấp, cũng như các biện pháp hồi sức cần thiết khác.

Sau khi phát hiện và lấy bỏ mảnh tre, đồng thời tiếp tục các phác đồ điều trị uốn ván, trong hai ngày tiếp theo, tình trạng gồng cứng của bệnh nhân giảm rõ rệt, nhu cầu sử dụng thuốc an thần để kiểm soát co cứng cũng giảm. Tuy nhiên, các bác sĩ cho biết chưa thể dựa vào diễn biến trong vài ngày đầu để khẳng định bệnh nhân đã hết hoàn toàn các cơn co cứng.

Người bệnh vẫn cần tiếp tục điều trị và theo dõi sát, bởi độc tố uốn ván đã gắn vào hệ thần kinh sẽ cần thời gian để hồi phục.

Việc lấy dị vật không đồng nghĩa các triệu chứng uốn ván sẽ chấm dứt ngay lập tức. Làm sạch dị vật giúp kiểm soát ổ tổn thương, loại bỏ nguồn sinh độc tố uốn ván, trong khi người bệnh vẫn cần tiếp tục điều trị, kiểm soát tình trạng co cứng và hỗ trợ hô hấp cho đến khi các triệu chứng dần cải thiện. Quá trình này có thể kéo dài nhiều tuần thì độc tố uốn ván mới được đào thải hết.

Hiện các bác sĩ đang tiếp tục theo dõi tiến triển của tình trạng co cứng cơ cũng như các rối loạn nặng khác trong bệnh cảnh uốn ván. Nếu xu hướng nặng vẫn tiến triển, mở khí quản sẽ được cân nhắc một lần nữa, mặc dù bệnh nhân vẫn còn sẹo mở khí quản cũ.

ThS.BS Lê Sơn Việt khuyến cáo, sau những tai nạn có vật nhọn đâm sâu như tre, gỗ, gai hoặc các vết thương do ngã, xây xát có đất, cát, sỏi lọt vào, người bệnh không nên chỉ sát khuẩn ngoài da rồi tự theo dõi tại nhà.

Vết thương cần được làm sạch và đánh giá đầy đủ tại cơ sở y tế, đặc biệt phải lưu ý khả năng còn dị vật bên trong. Đồng thời, bác sĩ sẽ căn cứ vào đặc điểm vết thương và tiền sử tiêm chủng để quyết định biện pháp dự phòng uốn ván phù hợp.

Một điểm quan trọng khác là đã từng mắc uốn ván không đồng nghĩa với việc có miễn dịch bảo vệ đầy đủ về sau. Vì vậy, việc tiêm chủng phòng uốn ván vẫn cần được đánh giá theo chỉ định chuyên môn, kể cả ở người đã từng mắc bệnh.

ThS.BS Lê Sơn Việt đặc biệt lưu ý người dân không nên chờ đến khi xuất hiện những cơn gồng cứng toàn thân mới đến bệnh viện. Ở giai đoạn đầu, bệnh có thể chỉ biểu hiện bằng mỏi hàm, khó há miệng hoặc cứng hàm. Nếu trước đó có tiền sử vết thương, đặc biệt là vết đâm sâu hoặc vết thương nhiễm bẩn, những biểu hiện này cần được xem là dấu hiệu cảnh báo.

“Có bệnh nhân ban đầu chỉ thấy hơi mỏi hàm, cứng hàm nên tiếp tục theo dõi ở nhà. Tuy nhiên, tình trạng có thể tiến triển nhanh sang co cứng cơ ngực, cơ bụng và toàn thân. Khi ảnh hưởng đến hô hấp, bệnh nhân có thể nguy hiểm đến tính mạng rất nhanh. Vì vậy, khi có tiền sử vết thương và xuất hiện cứng hàm, người bệnh cần đến cơ sở y tế ngay”, ThS.BS Lê Sơn Việt nhấn mạnh.

NGƯỜI CAO TUỔI BỊ CHÓ CẮN: TỪ LÓC DA DIỆN RỘNG ĐẾN GÃY XƯƠNG HỞ

Hai người bệnh cao tuổi được Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương tiếp nhận sau khi bị chó cắn với những tổn thương nặng: một trường hợp có hơn 10 vết cắn, trong đó có vết gây gãy hở xương quay; trường hợp còn lại bị lóc da cẳng tay diện rộng, lộ lớp cân cơ. Các bác sĩ cảnh báo, bên cạnh nguy cơ bệnh dại, chó cắn còn có thể gây tổn thương cơ học nghiêm trọng và nhiễm trùng, đặc biệt ở người cao tuổi, người hạn chế khả năng vận động.

Hơn 10 vết chó cắn, gãy hở xương cẳng tay

BSCKII Vũ Giang An, Khoa Ngoại Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cho biết, trường hợp thứ nhất là một bệnh nhân nữ 73 tuổi, ở Hà Nội, được chuyển đến bệnh viện sau khi bị chính chó nhà cắn.

Theo gia đình, nhà bệnh nhân có nuôi 2 con chó với cân nặng khoảng 20kg/con và vừa mới sinh con. Trong lúc người bệnh dọn dẹp và tác động vào khu vực chó con, chó mẹ bất ngờ tấn công.

Qua thăm khám, các bác sĩ ghi nhận hơn 10 vết thương do chó cắn ở nhiều vị trí trên cơ thể. Riêng vùng cánh tay, cẳng tay và bàn tay trái có khoảng 7 vết thương. Người bệnh còn có các vết thương lớn ở vùng mông phải và gối phải. Đáng chú ý, một vết cắn ở cẳng tay gây tổn thương sâu, gãy hở xương quay.  

“Đây là trường hợp  nặng. Người bệnh không chỉ có nhiều vết thương phần mềm mà tổn thương còn sâu đến mức gây gãy xương hở. Với những trường hợp như vậy, cần đánh giá như một chấn thương thực sự, từ tình trạng mất máu, nguy cơ sốc đến tổn thương mạch máu, xương và phần mềm”, BSCKII Vũ Giang An cho biết.

Người bệnh được xử trí tiêm dự phòng bệnh dại, đồng thời điều trị kháng sinh và chăm sóc các vết thương. Do các vết thương bị nhiễm bẩn và có nguy cơ nhiễm trùng, các bác sĩ không đóng kín ngay toàn bộ mà tiếp tục theo dõi, thay băng và kiểm soát tình trạng viêm nhiễm.

Liệt 6 năm, bị chó cắn khi đang nằm trên giường, lóc da cẳng tay dài 20–25 cm

Trường hợp thứ hai là bệnh nhân N.T.K, 76 tuổi, ở Hà Nội, đã bị liệt khoảng 6 năm và phần lớn thời gian nằm tại giường. Người bệnh bị chó tấn công ngay khi đang nằm, gần như không có khả năng tự vệ.

ThS.BS Lê Trung Thành, Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, cho biết: lực cắn và giằng xé khiến cẳng tay trái của bệnh nhân bị lóc da trên diện rộng, toàn bộ da và lớp mỡ dưới da bị bóc khỏi tổ chức bên dưới, để lộ lớp cân cơ. Vùng lóc da kéo dài khoảng 20–25 cm, từ khuỷu xuống gần cổ tay, rộng nhất khoảng 10 cm.

Người bệnh được sơ cứu, làm sạch, cắt lọc tổ chức tổn thương và xử trí vết thương. Những ngày đầu, vùng tổn thương sưng nề, tấy đỏ. Sau khoảng một tuần, khi tình trạng sưng viêm giảm, các bác sĩ tiếp tục làm sạch và khâu thưa từng bước để thu nhỏ diện tích vết thương. Người bệnh đồng thời được tiêm dự phòng bệnh dại và điều trị chuyên khoa.

“Vết thương do động vật cắn thuộc nhóm vết thương nhiễm bẩn. Khi răng chó xuyên qua da và phần mềm, vi khuẩn có thể theo vết cắn đi sâu vào tổ chức. Với những vết cắn sâu, dập nát, lóc da hoặc tổn thương đến gân, khớp, xương, nguy cơ nhiễm trùng càng cần được lưu ý”, BS  Thành cho biết.

Chó cắn không chỉ là nguy cơ bệnh dại

Theo các bác sĩ, hai trường hợp trên cho thấy vết chó cắn không nên được xem đơn thuần là một tổn thương ngoài da.

Răng chó cùng lực cắn, nghiền và giằng có thể gây tổn thương rộng hơn nhiều so với biểu hiện bên ngoài. Một vết cắn có thể đi kèm dập nát phần mềm, tổn thương gân, mạch máu, thần kinh; trường hợp nặng có thể gây lóc da diện rộng hoặc gãy xương. Bên cạnh đó, nguy cơ nhiễm trùng cũng cần đặc biệt lưu ý.

BSCKII Vũ Giang An nhấn mạnh, với những vết cắn sâu và phức tạp, xử trí ban đầu có ý nghĩa rất quan trọng. Vết thương cần được làm sạch, đánh giá mức độ tổn thương và xử trí phù hợp. Không phải mọi vết chó cắn đều cần khâu kín ngay; với vết thương nhiễm bẩn, dập nát hoặc nguy cơ nhiễm trùng cao, bác sĩ có thể lựa chọn để hở, khâu thưa hoặc trì hoãn đóng vết thương tùy từng trường hợp.

Các bác sĩ khuyến cáo, chó nuôi cần được quản lý và tiêm phòng dại đầy đủ. Đặc biệt, cần thận trọng khi tiếp cận chó mẹ đang nuôi con. Gia đình có người cao tuổi, người liệt hoặc hạn chế khả năng vận động cần kiểm soát việc tiếp xúc với vật nuôi, bởi những người này có thể khó tự bảo vệ khi bị tấn công.

 

Khi bị chó cắn, cần rửa kỹ vết thương dưới vòi nước sạch với xà phòng, không tự đắp lá, bôi thuốc hoặc sử dụng các chất không rõ nguồn gốc, sau đó đến cơ sở y tế càng sớm càng tốt để được đánh giá tổn thương, dự phòng uốn ván và bệnh dại theo chỉ định.

Nếu vết cắn rộng hoặc sâu, chảy máu nhiều, có lóc da, biến dạng chi, đau nhiều, hạn chế hoặc mất vận động, tê bì, đầu chi nhợt hoặc lạnh, người bệnh cần được đưa đến cơ sở y tế để đánh giá sớm vì có thể kèm tổn thương mạch máu, thần kinh, gân hoặc xương.

Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội

CƠN ĐAU BÌU THOÁNG QUA BỊ BỎ QUA, TRẺ 13 TUỔI PHẢI CẮT BỎ MỘT BÊN TINH HOÀN

Từng nhiều lần xuất hiện những cơn đau vùng bìu rồi tự thuyên giảm, gia đình cho rằng trẻ chỉ bị đau thông thường. Đến khi cơn đau dữ dội kéo dài, trẻ được đưa đến bệnh viện thì tinh hoàn đã hoại tử nặng, buộc phải phẫu thuật cắt bỏ.

Theo thông tin từ gia đình, H.G.B. (13 tuổi, Hà Nội) từng nhiều lần xuất hiện các cơn đau vùng bìu nhưng sau đó tự hết. Vì vậy, gia đình cho rằng trẻ chỉ bị đau thông thường trong quá trình vui chơi, sinh hoạt và chưa đưa trẻ đi kiểm tra.

Một ngày trước khi nhập viện, buổi sáng sau khi thức dậy, B. xuất hiện cơn đau dữ dội vùng bìu và tinh hoàn và thông báo với bố mẹ. Tuy nhiên, do nghĩ triệu chứng tương tự những lần trước và có thể tự thuyên giảm, gia đình dặn trẻ tiếp tục theo dõi. B. vẫn cố gắng đến trường.

Đến chiều tối, cơn đau có phần thuyên giảm nhưng trẻ bắt đầu xuất hiện thêm đau bụng. Sang sáng hôm sau, cơn đau dữ dội vùng bìu tái xuất hiện và mức độ nghiêm trọng hơn. Nhận thấy tình trạng của con không cải thiện, khoảng 15 giờ cùng ngày, gia đình đưa B. đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương thăm khám.

Ngay khi tiếp nhận, BSCKII Trần Thượng Việt, Trưởng Khoa Ngoại Tiết niệu và Nam học, nhận thấy các dấu hiệu bất thường và chẩn đoán trẻ bị xoắn tinh hoàn. B. được chuyển thẳng lên phòng mổ với chỉ định phẫu thuật cấp cứu.

“Khi mở vùng bìu, chúng tôi nhận thấy tinh hoàn trái của bệnh nhi đã chuyển màu tím đen. Tinh hoàn bị xoắn chặt khoảng 5 vòng, khiến nguồn máu nuôi bị tắc nghẽn hoàn toàn. Tinh hoàn đã hoại tử nặng và không còn khả năng bảo tồn nên buộc phải cắt bỏ”, BSCKII Trần Thượng Việt chia sẻ.

Theo bác sĩ Việt, xoắn tinh hoàn là một cấp cứu ngoại khoa, trong đó thừng tinh bị xoắn quanh trục, làm cản trở hoặc ngừng dòng máu đến tinh hoàn. Thời gian từ khi xuất hiện triệu chứng đến khi được phẫu thuật có ý nghĩa quyết định đối với khả năng bảo tồn tinh hoàn. Nếu người bệnh được can thiệp sớm, tinh hoàn có cơ hội được tháo xoắn và bảo tồn; ngược lại, khi tình trạng thiếu máu kéo dài, mô tinh hoàn có thể hoại tử và phải cắt bỏ. Với trường hợp của B., khi phẫu thuật, tinh hoàn trái đã chuyển màu tím đen và hoại tử nặng nên không thể bảo tồn.

Bác sĩ Việt cho biết, việc mất một bên tinh hoàn có thể khiến người bệnh và gia đình lo lắng về khả năng sinh sản, nội tiết cũng như tâm lý sau này. Tuy nhiên, trong trường hợp của B., trẻ vẫn còn tinh hoàn phải và nếu tinh hoàn còn lại phát triển, hoạt động bình thường thì khả năng sản xuất nội tiết tố sinh dục và tinh trùng vẫn có thể được duy trì.

Sau 5 ngày phẫu thuật, chăm sóc tích cực, sức khỏe của cháu B. đã bình phục hoàn toàn và được xuất viện.

ĐAU BÌU ĐỘT NGỘT Ở BÉ TRAI: KHÔNG ĐƯỢC CHỦ QUAN

BSCKII Trần Thượng Việt cho biết, xoắn tinh hoàn có thể gặp ở nhiều lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ trong độ tuổi dậy thì. Đây là tình trạng cần được nhận diện và xử trí khẩn cấp bởi nếu chậm trễ, nguy cơ tổn thương và mất tinh hoàn sẽ tăng lên.

Triệu chứng điển hình là cơn đau đột ngột, dữ dội ở một bên bìu, có thể kèm theo sưng, đỏ vùng bìu, tinh hoàn bên bệnh nằm cao hơn bên đối diện. Một số trẻ có thể xuất hiện đau bụng, buồn nôn hoặc nôn.

Đáng lưu ý, không phải trường hợp nào cơn đau cũng kéo dài liên tục. Một số trẻ có thể xuất hiện những cơn đau dữ dội rồi tự thuyên giảm. Tình trạng này có thể khiến gia đình lầm tưởng trẻ đã khỏi bệnh và bỏ qua việc thăm khám. Tuy nhiên, những cơn đau tái diễn có thể liên quan đến tình trạng xoắn tinh hoàn từng lúc, cần được bác sĩ chuyên khoa đánh giá để có hướng xử trí phù hợp.

BSCKII Trần Thượng Việt khuyến cáo, khi trẻ trai xuất hiện cơn đau đột ngột hoặc bất thường ở vùng bìu, đặc biệt là đau một bên, phụ huynh không nên chờ đợi xem triệu chứng có tự hết hay không. Trẻ cần được đưa đến cơ sở y tế có chuyên khoa phù hợp càng sớm càng tốt để được thăm khám và xử trí.

“Xoắn tinh hoàn là cấp cứu cần can thiệp khẩn cấp. Phụ huynh tuyệt đối không nên tự xoa bóp, tác động hoặc tìm cách tháo xoắn tại nhà. Việc chậm trễ có thể làm mất đi cơ hội bảo tồn tinh hoàn của trẻ”, BSCKII Trần Thượng Việt nhấn mạnh.

3 NGÀY, 2 CA TAI NẠN LAO ĐỘNG NGHIÊM TRỌNG, BÁC SĨ NỖ LỰC BẢO TỒN BÀN NGÓN TAY

Chỉ trong 3 ngày, Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương tiếp nhận hai nam bệnh nhân bị chấn thương bàn tay đặc biệt nghiêm trọng do máy cưa gỗ và thang máy. Các ngón tay bị tổn thương, trong đó nhiều ngón gần như đứt rời hoặc mất hoàn toàn tuần hoàn. Hai cuộc phẫu thuật kéo dài khoảng 7 giờ mỗi ca được tiến hành nhằm tái lập mạch máu, phục hồi các cấu trúc tổn thương và bảo tồn tối đa ngón tay cho người bệnh.

ThS.BSNT Nguyễn Ngọc Linh, Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa cho biết, điểm chung của hai trường hợp là chấn thương gây tổn thương đồng thời xương, gân, mạch máu, thần kinh và phần mềm bàn tay. Nếu không tái lập được dòng máu đến các ngón trong thời gian phù hợp, mô sẽ tiếp tục thiếu máu, nguy cơ hoại tử và mất ngón tăng lên.

Máy cưa làm đứt rời 3 ngón tay người thợ mộc

Trường hợp thứ nhất là anh Nguyễn Văn K, 38 tuổi, làm nghề thợ mộc. Ngày 10/9, trong lúc đưa phôi gỗ vào máy cưa, bàn tay trái của người bệnh bất ngờ bị lưỡi cưa cuốn vào.

Sau tai nạn, bệnh nhân được đưa đến một cơ sở y tế để sơ cứu. Nhận thấy tổn thương phức tạp, cơ sở này đã liên hệ với Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương và chuyển người bệnh đến để tiếp tục xử trí.

Hơn 3 giờ sau tai nạn, bệnh nhân có mặt tại Bệnh viện được đưa vào phòng mổ. Các bác sĩ ghi nhận ngón II, III và IV bàn tay trái gần như đứt rời khỏi bàn tay, búp ngón xẹp, trắng nhợt do mất tưới máu. Xương của cả ba ngón gãy vụn thành nhiều mảnh, phần mềm dập nát; gân gấp, gân duỗi, mạch máu và thần kinh đều bị đứt hoàn toàn.

Theo ThS.BSNT Nguyễn Ngọc Linh, đây chính là điểm khiến việc nối lại ngón tay khó hơn rất nhiều so với một vết cắt gọn. “Với chấn thương do máy cưa, tổn thương không chỉ nằm tại đường cắt vừa bị cắt vừa bị kéo giãn, dập trên một đoạn. Vì vậy, khi phẫu thuật, chúng tôi phải đánh giá và loại bỏ phần mô không còn khả năng bảo tồn trước khi tiến hành phục hồi”, ThS.BSNT Nguyễn Ngọc Linh cho biết.

Những mảnh xương quá nhỏ, rời rạc không thể cố định được loại bỏ; xương được thu ngắn ở mức cần thiết và cố định lại. Sau đó, ê-kíp lần lượt phục hồi gân gấp, gân duỗi, mạch máu, thần kinh và phần mềm của các ngón. Đặc biệt, khi cả ba ngón cùng mất cấp máu, ê – kíp phải tính toán thứ tự tái lập tuần hoàn để rút ngắn tối đa thời gian thiếu máu của từng ngón.

“Chúng tôi ưu tiên những ngón có vai trò chức năng quan trọng, đồng thời cố gắng bảo tồn tối đa các ngón còn lại. Nguyên tắc là khi còn khả năng nối và bảo tồn thì sẽ cố gắng thực hiện và chỉ từ bỏ khi tổn thương thực sự không còn khả năng phục hồi”, BS Linh cho biết.

Cuộc phẫu thuật kéo dài khoảng 7 giờ. Đến thời điểm theo dõi những ngày đầu sau mổ, cả ba ngón được nối vẫn duy trì tình trạng ổn định.

Bốn ngón vẫn còn dính nhưng bên trong đã mất dòng máu

Chỉ hai ngày sau, ngày 12/9, Khoa tiếp tục tiếp nhận một nam bệnh nhân 59 tuổi, quê Nghệ An, đang làm nghề xe ôm tại Hà Nội. Khoảng 12 giờ trưa, trong lúc làm việc, bàn tay người bệnh không may bị kẹp giữa phần sàn và hệ thống thang máy.

Khác với trường hợp đầu tiên, các ngón tay của bệnh nhân không đứt rời hoàn toàn. Một phần da và mô phía mu tay vẫn còn giữ các ngón với bàn tay. Tuy nhiên các ngón nhợt, mất tưới máu.

Theo ThS.BSNT Nguyễn Ngọc Linh, đây là tình huống dễ khiến người không có chuyên môn chủ quan vì “ngón vẫn còn dính thì chưa quá nặng”. Thực tế, nếu mạch máu bị đứt, dập hoặc tắc hoàn toàn thì phần ngón phía xa vẫn rơi vào tình trạng thiếu máu và dẫn đến hoại tử.

Cơ chế nghiền ép do vật nặng cũng gây tổn thương khác với máy cưa. Lực ép mạnh có thể làm dập nát mô trên diện rộng, đồng thời gây tổn thương thành mạch và hình thành huyết khối, khiến dòng máu bị tắc nghẽn.

Trong quá trình phẫu thuật, các bác sĩ phát hiện các mạch máu nuôi ngón bị tổn thương nặng; có vị trí bị dập và tắc, có đoạn đứt hoàn toàn. Những đoạn mạch không còn bảo đảm chất lượng được loại bỏ, sau đó ê-kíp tiến hành phục hồi mạch máu và các cấu trúc tổn thương cần thiết để tái lập tuần hoàn. Ca phẫu thuật cũng kéo dài khoảng 7 giờ. Những ngày đầu sau mổ, các ngón được bảo tồn đang duy trì tuần hoàn ổn định và tiếp tục được theo dõi sát.

Với ngón tay mất cấp máu, từng giờ đều có ý nghĩa

ThS.BSNT Nguyễn Ngọc Linh nhấn mạnh, những trường hợp đứt rời hoặc gần đứt rời chi thể là cấp cứu bảo tồn bộ phận. Người bệnh có thể không nguy hiểm tính mạng ngay lập tức, nhưng nếu xử trí chậm, nguy cơ mất vĩnh viễn một phần cơ thể và suy giảm chức năng bàn tay là rất lớn. Điều quan trọng không chỉ là người bệnh đến bệnh viện sau bao lâu mà còn là thời gian từ khi bộ phận mất nguồn cấp máu đến khi dòng máu được tái lập thành công.

Theo BS Linh, với ngón tay, ê-kíp luôn cố gắng tái lập tuần hoàn càng sớm càng tốt, khoảng 12 giờ đầu là mốc thuận lợi nhất trong các hướng dẫn y khoa. Tuy nhiên, mốc thời gian này không có nghĩa quá 12 giờ thì ngón tay chắc chắn không thể nối. “Nếu bộ phận đứt rời được bảo quản đúng, kể cả người bệnh đến muộn hơn, chúng tôi vẫn phải đánh giá cụ thể và nếu còn khả năng thì vẫn cố gắng nối. Không nên chỉ căn cứ vào một mốc giờ rồi mặc nhiên từ bỏ cơ hội bảo tồn ngón cho người bệnh”, ThS.BSNT Nguyễn Ngọc Linh nhấn mạnh.

Với những ca cấp cứu này, quy trình tiếp nhận cũng được rút ngắn tối đa. Sau đánh giá ban đầu, người bệnh được chụp X-quang, lấy máu xét nghiệm và nhanh chóng chuyển phòng mổ. Những kết quả không bắt buộc phải có trước phẫu thuật có thể được hoàn thiện song song, nhằm hạn chế thời gian thiếu máu của các ngón.

Bảo tồn ngón tay là bảo tồn chức năng và khả năng lao động

Theo TS.BS Dương Mạnh Chiến – Phụ trách Khoa Tạo hình – thẩm mỹ và Liên chuyên khoa cho biết, mục tiêu của phẫu thuật không chỉ là làm cho ngón tay “sống lại”. Sau khi tái lập tuần hoàn, người bệnh còn cả một quá trình liền xương, liền gân, phục hồi thần kinh và tập phục hồi chức năng.

Mức độ hồi phục cuối cùng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cơ chế và mức độ dập nát, thời gian thiếu máu, vị trí tổn thương, chất lượng mạch máu, thần kinh, khả năng liền xương cũng như quá trình tập phục hồi chức năng sau mổ. Vì vậy, việc nối thành công về mặt tuần hoàn là bước quan trọng đầu tiên, chưa đồng nghĩa chức năng bàn tay sẽ ngay lập tức trở lại bình thường.

Tuy nhiên, bảo tồn được ngón tay tạo cơ hội giữ lại tối đa chức năng bàn tay cho người bệnh. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với những người lao động chủ yếu bằng đôi tay, bởi mất một hay nhiều ngón có thể ảnh hưởng lâu dài đến khả năng làm việc và sinh hoạt.

TS.BS Dương Mạnh Chiến khuyến cáo, người làm việc với máy cưa, máy cắt, máy ép, thang máy hàng hóa và các thiết bị cơ khí cần tuân thủ nghiêm quy trình an toàn, sử dụng phương tiện bảo hộ phù hợp và tuyệt đối không chủ quan khi vận hành máy.

Khi xảy ra chấn thương khiến ngón tay đứt rời, gần đứt rời, dập nát hoặc vẫn còn dính nhưng trở nên trắng nhợt, tím lạnh, mất cảm giác, người bệnh cần được sơ cứu và nhanh chóng chuyển đến cơ sở y tế có khả năng phẫu thuật tái tạo, vi phẫu nếu cần.

“Đừng vội coi một ngón tay dập nát hoặc gần đứt rời là không thể cứu. Điều quan trọng là sơ cứu đúng, bảo quản đúng nếu bộ phận đã đứt rời và đưa người bệnh đến cơ sở có khả năng nối càng sớm càng tốt. Bởi phía sau một ngón tay được giữ lại không chỉ là hình thể, mà còn là chức năng bàn tay, khả năng lao động và cuộc sống lâu dài của người bệnh”, TS.BS Dương Mạnh Chiến nhấn mạnh.

Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội

CHƯỜM NÓNG KHI TÊ BÌ CHÂN, NGƯỜI ĐÀN ÔNG SUÝT MẤT CẢ HAI BÀN CHÂN

Từ cảm giác tê bì, lạnh ở hai bàn chân, người đàn ông 48 tuổi tự chườm nóng tại nhà. Sau đó, bàn chân xuất hiện tổn thương da, sưng viêm, hoại tử lan rộng. Các bác sĩ Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa ,Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương phải thực hiện nhiều lần cắt lọc và tái tạo đồng thời cả hai bàn chân bằng kỹ thuật vi phẫu.

Người bệnh L.V.K , 48 tuổi, trước đó khỏe mạnh, không ghi nhận bệnh nền đáng chú ý. Khoảng ba tuần trước khi được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, người bệnh bắt đầu xuất hiện cảm giác tê bì, lạnh và khó chịu ở hai bàn chân. Nghĩ rằng đây là biểu hiện cần làm ấm, người bệnh tự chườm nóng bàn chân tại nhà.

Sau đó, da hai bàn chân bắt đầu xuất hiện tổn thương, sưng tấy ngày càng nhiều, kèm sốt. Tình trạng viêm nhiễm tiến triển nhanh, tổn thương lan rộng khiến người bệnh phải nhập viện điều trị. Người bệnh được điều trị khoảng 10 ngày tại cơ sở y tế  để phẫu thuật cắt lọc tổ chức hoại tử . Tuy nhiên, tình trạng hoại tử vẫn tiếp tục tiến triển nên được chuyển đến Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Theo ThS.BS Nguyễn Ngọc Linh, ê-kíp tiếp tục thực hiện cắt lọc qua nhiều lần nhằm loại bỏ các tổ chức hoại tử và kiểm soát tình trạng nhiễm trùng. Sau khi quá trình hoại tử được kiểm soát, hai bàn chân để lại những khuyết hổng mô mềm rộng và sâu, khoảng một nửa diện tích gan bàn chân, tập trung ở các vùng chịu lực khi đứng và đi lại. Một bàn chân bị mất ba ngón, một số vị trí khuyết sâu làm lộ gân và các cấu trúc bên dưới.

Khuyết hổng gan bàn chân: Không chỉ cần “đóng kín” vết thương

Điều khiến trường hợp này phức tạp không chỉ là diện tích tổn thương lớn mà còn nằm ở vị trí khuyết hổng. Gan bàn chân, đặc biệt những vùng chịu lực, có cấu trúc mô mềm chuyên biệt với khả năng chịu áp lực và ma sát lặp đi lặp lại trong quá trình đứng, đi lại.

“Da và mô mềm ở vùng tỳ đè của gan bàn chân không đơn thuần chỉ có nhiệm vụ che phủ. Đây là cấu trúc được tạo ra để chịu lực khi con người đứng và đi. Khi vùng này bị mất, chúng tôi không chỉ nghĩ đến việc làm sao để vết thương kín lại mà phải tính đến việc sau này người bệnh có thể đứng, chịu lực và đi lại trên bàn chân đó hay không”, ThS.BS Nguyễn Ngọc Linh cho biết.

Vì vậy, với những khuyết hổng sâu và rộng ở vùng chịu lực, ghép da mỏng thông thường không phải là lựa chọn phù hợp. Lớp da ghép khó đáp ứng được yêu cầu chịu lực lâu dài, có thể dễ tổn thương, trợt loét khi người bệnh vận động. Trong trường hợp này, nền tổn thương sâu, từng viêm nhiễm, lộ gân và thiếu mô mềm càng khiến việc che phủ đơn thuần trở nên khó khăn. Trong khi đó, lượng da và mô mềm có thể sử dụng ngay quanh bàn chân không nhiều, đồng thời các mô lân cận cũng đã chịu ảnh hưởng của quá trình viêm và hoại tử.

Nếu không tái tạo được một lớp mô đủ dày, có sức sống tốt và khả năng chịu lực, người bệnh có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng bàn chân; với những tổn thương quá nặng, nguy cơ phải cắt cụt chi có thể được đặt ra.

Hai ê-kíp vi phẫu cùng tái tạo hai bàn chân

Trước tình trạng tổn thương phức tạp, các bác sĩ quyết định sử dụng vạt tự do vi phẫu để tái tạo đồng thời cả hai bàn chân. Thay vì chỉ sử dụng một lớp da mỏng, bác sĩ lấy một khối mô có độ dày phù hợp từ vị trí khác trên cơ thể, gồm da, mô mềm và hệ thống mạch máu nuôi. Khối mô này được chuyển đến vùng tổn thương để vừa che phủ bề mặt, vừa bổ sung phần mô mềm bị thiếu hụt. Dưới kính hiển vi phẫu thuật, các bác sĩ nối những mạch máu rất nhỏ của vạt với mạch máu nhận tại vùng cổ chân. Khi dòng máu được tái lập, vạt mô có nguồn nuôi mới, tiếp tục sống và tham gia quá trình liền thương.

Theo ThS.BS Nguyễn Ngọc Linh, mục tiêu của vi phẫu trong trường hợp này không đơn thuần là đóng kín vết thương mà phải tạo được lớp mô che phủ có sức sống, đủ độ dày và ổn định để bảo vệ các cấu trúc sâu, đồng thời tạo điều kiện cho người bệnh phục hồi khả năng đứng và đi lại.

Khó khăn lớn hơn là tổn thương xuất hiện đồng thời ở cả hai bàn chân, đồng nghĩa với việc phải thực hiện hai vạt vi phẫu.

Theo TS.BS Dương Mạnh Chiến – phụ trách Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, một ca chuyển vạt vi phẫu thông thường đã đòi hỏi nhiều giờ phẫu thuật và sự phối hợp chặt chẽ của cả ê-kíp. Nếu thực hiện  lần lượt từng bàn chân, tổng thời gian phẫu thuật và gây mê sẽ kéo dài đáng kể. Do đó, khoa đã bố trí hai ê-kíp vi phẫu thực hiện song song hai vạt trong cùng cuộc mổ. Nhờ đó, toàn bộ quá trình phẫu thuật kéo dài khoảng 5,5–6 giờ, thay vì phải cộng dồn thời gian của hai cuộc chuyển vạt riêng biệt.

 “Vi phẫu đòi hỏi nhân lực được đào tạo chuyên sâu, trang thiết bị và khả năng phối hợp ê-kíp. Trong trường hợp này, việc có thể triển khai hai ê-kíp cùng lúc giúp chúng tôi xử lý đồng thời hai tổn thương rất phức tạp mà không kéo dài quá mức thời gian phẫu thuật cho người bệnh”, TS.BS Dương Mạnh Chiến cho biết.

Sau phẫu thuật 14 ngày, hai vạt vi phẫu sống tốt, vết mổ liền thuận lợi và người bệnh đã được cắt chỉ. Người bệnh bắt đầu được hướng dẫn đặt chân xuống đất, tập chịu lực từng bước, tiến tới phục hồi khả năng đi lại. Quá trình này cần được thực hiện thận trọng bởi mô được tái tạo phải có thời gian thích nghi dần với áp lực khi đứng và vận động.

Tê bì bàn chân: Không nên tự ý chườm nóng

Từ trường hợp này, ThS.BS Nguyễn Ngọc Linh lưu ý một thói quen khá phổ biến khi xuất hiện cảm giác tê bì, lạnh hoặc khó chịu ở bàn chân là tự ngâm, chườm hoặc sưởi ấm. Ở những người bị giảm hoặc mất cảm giác bàn chân, khả năng nhận biết nhiệt độ có thể bị suy giảm. Khi đó, việc sử dụng nước nóng hoặc nguồn nhiệt quá mức có thể gây bỏng mà người bệnh không nhận biết kịp thời. Tổn thương da sau bỏng có thể tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, dẫn đến viêm mô tế bào, nhiễm trùng sâu và hoại tử nếu không được xử trí phù hợp.

Nguy cơ này đặc biệt cần lưu ý ở người mắc đái tháo đường, bệnh lý thần kinh ngoại biên hoặc các tình trạng gây rối loạn cảm giác ở bàn chân.

Người dân cũng không nên tự ý đắp lá, thuốc hoặc các chất không rõ thành phần lên vùng da đang tổn thương. Những biện pháp này không thay thế việc tìm nguyên nhân và điều trị y tế, đồng thời có thể khiến tổn thương da hoặc tình trạng nhiễm trùng trở nên phức tạp hơn.

TS.BS Dương Mạnh Chiến khuyến cáo, khi bàn chân xuất hiện tê bì bất thường, sưng nóng đỏ, phỏng nước, đổi màu da, đau, chảy dịch hoặc có dấu hiệu nghi ngờ hoại tử, người bệnh cần đến cơ sở y tế để được đánh giá sớm.

Đặc biệt, người có rối loạn cảm giác ở bàn chân không nên tự thử nhiệt độ nước bằng bàn chân hoặc ngâm chân trong nước quá nóng. Việc xác định nguyên nhân gây tê bì và điều trị sớm có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa các tổn thương nặng hơn.

Bài và ảnh: Phòng Công tác xã hội

BÉ TRAI 4 TUỔI SỐT CAO LIÊN TỤC, PHÁT HIỆN NHIỄM ADENOVIRUS: BÁC SĨ CẢNH BÁO DẤU HIỆU BỆNH NẶNG

Sốt cao 39–400C kéo dài nhiều ngày là biểu hiện có thể gặp ở trẻ nhiễm Adenovirus. Phần lớn trẻ có thể hồi phục với điều trị hỗ trợ, nhưng một số trường hợp có thể xuất hiện biến chứng nguy hiểm như  viêm phổi, suy hô hấp, đặc biệt ở trẻ nhỏ hoặc trẻ có yếu tố nguy cơ.

Mới đây, Khoa Nhi, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương tiếp nhận bệnh nhi N.P.L, 48 tháng tuổi ở Ninh Bình, nhập viện sau 2 ngày sốt cao liên tục. Theo gia đình, trẻ đột ngột sốt cao, có thời điểm lên tới 40 độ C. Dù được sử dụng thuốc hạ sốt paracetamol, cứ sau chưa đến 4 giờ trẻ đã sốt cao trở lại, kèm sưng đau họng, ăn uống rất kém, nôn 2 lần và ho ít.

Kết quả xét nghiệm cho thấy trẻ dương tính với Adenovirus. Khi thăm khám, trẻ sốt cao, mệt nhiều, họng đỏ, hai amidan sưng to, xuất hiện giả mạc hai bên. Tình trạng đau họng khiến trẻ ăn uống rất kém. Bệnh nhi được chẩn đoán nhiễm Adenovirus, biểu hiện chủ yếu ở đường hô hấp trên.

Theo BS Nguyễn Thành Lê, Phó Trưởng Khoa Nhi, Adenovirus có thể gây sốt cao 39–400C và sốt kéo dài nhiều ngày hơn so với các virus khác. Ở một số trẻ, có thể biến chứng viêm đường hô hấp dưới gây viêm phế quản phổi với các biểu hiện như ho tăng dần, thở nhanh, khó thở, co kéo lồng ngực, giảm oxy máu, thậm chí viêm phổi nặng và suy hô hấp. Sốt cao kéo dài, ăn uống kém hoặc nôn có thể khiến trẻ mất nước, mệt nhiều. Ở trẻ nhỏ, sốt cao cũng có thể làm tăng nguy cơ co giật do sốt.

“May mắn, bệnh nhi được gia đình đưa đến bệnh viện tương đối sớm, khi bệnh mới ở ngày thứ 2. Mặc dù trẻ sốt cao liên tục, có thời điểm lên tới 40 độ C, nhưng tại thời điểm thăm khám, các xét nghiệm chưa ghi nhận dấu hiệu tổn thương nặng. CRP chỉ tăng nhẹ, X-quang chưa phát hiện tổn thương tại phổi. Chúng tôi tập trung điều trị hạ sốt, bù dịch, chăm sóc hỗ trợ và theo dõi sát diễn biến, đặc biệt các dấu hiệu gợi ý bệnh tiến triển xuống đường hô hấp dưới”, BS Lê cho biết.

Sau 5 ngày điều trị, trẻ bắt đầu hết sốt. Tình trạng sưng đau họng, amidan cải thiện, trẻ ăn uống tốt dần. Sau hai ngày liên tiếp không còn sốt, đến ngày thứ 7, sức khỏe ổn định và trẻ được xuất viện.

BS Lê lưu ý, không nên chỉ dựa vào mức độ sốt để đánh giá bệnh nặng hay nhẹ. Trẻ sốt 39–400C nhưng vẫn tỉnh táo, uống được, không khó thở sẽ khác với trẻ li bì, bỏ ăn uống, thở nhanh, co kéo lồng ngực hoặc giảm oxy máu. Vì vậy, bên cạnh theo dõi nhiệt độ, cha mẹ cần chú ý đến toàn trạng, khả năng ăn uống và đặc biệt là tình trạng hô hấp của trẻ. Adenovirus có khả năng lây truyền qua dịch tiết đường hô hấp, tiếp xúc trực tiếp, bàn tay, đồ dùng và bề mặt nhiễm virus. Rửa tay thường xuyên, vệ sinh đồ dùng và hạn chế dùng chung vật dụng cá nhân là những biện pháp giúp hạn chế lây nhiễm.

Khi trẻ mắc Adenovirus, cha mẹ cần cho trẻ nghỉ ngơi, uống đủ nước, theo dõi nhiệt độ và sử dụng thuốc hạ sốt đúng liều theo hướng dẫn. Không tự ý sử dụng kháng sinh hoặc phối hợp nhiều loại thuốc khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Nếu trẻ sốt cao liên tục khó kiểm soát, li bì hoặc khó đánh thức, mệt nhiều, bỏ ăn uống hoặc không uống được, nôn nhiều, tiểu ít, cha mẹ cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để được thăm khám.

Đặc biệt, khi trẻ có các dấu hiệu như thở nhanh, khó thở, co kéo lồng ngực, tím tái, co giật hoặc xuất hiện các biểu hiện bất thường, cần đưa trẻ đi khám ngay để được đánh giá và xử trí kịp thời.

CHỈ XÂY XÁT NHẸ SAU TAI NẠN, NAM THANH NIÊN 23 TUỔI VỠ LÁCH ĐỘ IV NGUY KỊCH

Nam thanh niên 23 tuổi vẫn tỉnh táo sau vụ va chạm giữa xe máy và ô tô, trên người chỉ có nhiều vết xây xát. Ít ai ngờ, bên trong ổ bụng, lách đã vỡ độ IV gây chảy máu ồ ạt. Nhờ được chẩn đoán nhanh và phẫu thuật cấp cứu kịp thời tại Trung tâm Phẫu thuật Gan mật và Tiêu hóa, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, người bệnh đã vượt qua tình trạng nguy kịch.

Người bệnh Đ.Q.H. (23 tuổi) trước đó hoàn toàn khỏe mạnh, được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương sau vụ va chạm giữa xe máy và ô tô. Thời điểm nhập viện, người bệnh vẫn tỉnh táo, trên cơ thể có nhiều vết xây xát ngoài da, mạch 100 lần/phút, huyết áp 90/60 mmHg. Khám lâm sàng ghi nhận đau nhiều vùng bụng trái, phản ứng thành bụng rõ – dấu hiệu gợi ý chấn thương bụng kín.

Ngay lập tức, các bác sĩ chỉ định chụp cắt lớp vi tính để đánh giá tổn thương. Kết quả cho thấy người bệnh bị vỡ lách độ IV, có điểm chảy máu đang hoạt động kèm lượng máu lớn trong ổ bụng.

ThS.BSNT Nguyễn Văn Phúc – Trung tâm Phẫu thuật Gan mật và Tiêu hóa cho biết, vỡ lách độ IV là một tổn thương rất nặng. Vết rách đã làm tổn thương các mạch máu lớn của lách, khiến hơn 25% vùng nhu mô lách mất nguồn cấp máu nuôi, đồng thời máu vẫn tiếp tục chảy vào ổ bụng. Đây là tình trạng cấp cứu ngoại khoa nguy hiểm vì người bệnh có thể nhanh chóng rơi vào sốc mất máu nếu không được phẫu thuật kịp thời. Trước tình trạng chảy máu đang diễn tiến và nguy cơ mất máu nặng, ê-kíp đã quyết định phẫu thuật cấp cứu cắt lách nhằm kiểm soát xuất huyết và bảo toàn tính mạng cho người bệnh. Ca phẫu thuật diễn ra thuận lợi. Sau phẫu thuật, người bệnh hồi phục tốt, không ghi nhận biến chứng. Dẫn lưu được rút vào ngày thứ 5, người bệnh ăn uống, vận động tốt và xuất viện sau 7 ngày điều trị.

Theo BS Phúc, lách là cơ quan bị tổn thương phổ biến nhất trong chấn thương bụng kín, chiếm khoảng 25% các trường hợp ở người lớn và 25-30% ở trẻ em. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp vỡ lách đều phải cắt bỏ.

“Xu hướng hiện nay là điều trị bảo tồn tối đa lách nếu người bệnh ổn định về huyết động. Khi đó, bác sĩ có thể lựa chọn điều trị không phẫu thuật kết hợp theo dõi sát hoặc can thiệp nút mạch để cầm máu, giúp giữ lại chức năng của lách.  Tuy nhiên, với những trường hợp có chảy máu đang hoạt động, huyết động không ổn định, tổn thương nặng vùng rốn lách hoặc điều trị bảo tồn không hiệu quả thì phẫu thuật cắt lách vẫn là chỉ định cần thiết để kiểm soát xuất huyết và cứu sống người bệnh”, BS Phúc nhấn mạnh.

BS Phúc cho biết thêm, điều  đáng lo ngại là chấn thương bụng kín không phải lúc nào cũng biểu hiện rầm rộ ngay sau tai nạn. Do lách là cơ quan có hệ thống mạch máu rất phong phú nên khi bị tổn thương có thể gây chảy máu nhiều trong ổ bụng. Đặc biệt, một số trường hợp có thể gặp vỡ lách hai thì. Ban đầu chỉ hình thành khối máu tụ dưới bao lách, sau đó vài giờ hoặc vài ngày khối máu tụ mới vỡ, khiến người bệnh đột ngột đau bụng dữ dội, tụt huyết áp và rơi vào sốc mất máu.

Vì vậy, ngay cả khi sau tai nạn người bệnh vẫn tỉnh táo hoặc chỉ có các vết xây xát ngoài da, nếu xuất hiện đau bụng tăng dần, đặc biệt đau vùng hạ sườn trái, bụng chướng, chóng mặt, mệt nhiều, da niêm mạc nhợt hoặc tụt huyết áp, cần nhanh chóng đến cơ sở y tế để được thăm khám. Việc phát hiện sớm tổn thương không chỉ giúp xử trí kịp thời mà còn tạo cơ hội bảo tồn lách ở những trường hợp đủ điều kiện.

Sau phẫu thuật cắt lách, người bệnh cần được tiêm các vắc-xin phòng những tác nhân gây nhiễm khuẩn nguy hiểm như phế cầu, Haemophilus influenzae týp b (Hib) và não mô cầu nhằm giảm nguy cơ nhiễm trùng nặng. Thời điểm tiêm thường được khuyến cáo không sớm hơn 14 ngày sau phẫu thuật, tùy theo tình trạng cụ thể của từng người bệnh.

BS Phúc khuyến cáo, mọi trường hợp chấn thương bụng kín sau tai nạn giao thông đều cần được đánh giá đầy đủ tại cơ sở y tế có chuyên môn, ngay cả khi bên ngoài chỉ có những vết thương nhỏ. Việc chẩn đoán sớm, theo dõi sát và lựa chọn đúng phương pháp điều trị sẽ góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, hạn chế biến chứng và giúp người bệnh phục hồi an toàn.

ĐẶT TÚI NGỰC 2 LẦN, VẾT THƯƠNG NHIỀU TUẦN KHÔNG LIỀN: BÁC SĨ NGHI NHIỄM VI KHUẨN HIẾM GẶP

Sau phẫu thuật đặt túi ngực, người phụ nữ 38 tuổi liên tục chảy dịch, vết thương không liền dù túi ngực đã được tháo bỏ nhiều tuần. Các bác sĩ nghi ngờ nhiễm NTM – nhóm vi khuẩn có thể gây nhiễm trùng dai dẳng và khó điều trị sau phẫu thuật, thủ thuật thẩm mỹ.

Chị L. T.L., 38 tuổi, ở Thanh Hóa, từng đặt túi ngực tại một cơ sở y tế khoảng 9 tháng trước. Sau phẫu thuật, người bệnh xuất hiện nhiễm trùng, phải tháo túi và điều trị trong thời gian dài.

Khoảng 6–7 tuần trước khi đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, do vẫn có nhu cầu thẩm mỹ, chị tiếp tục đặt lại túi ngực lần 2. Chỉ 1–2 tuần sau phẫu thuật, vùng can thiệp bắt đầu chảy dịch, chảy mủ. Người bệnh quay lại cơ sở thực hiện phẫu thuật, được tháo túi, làm sạch tổn thương, sử dụng kháng sinh và chăm sóc vết thương. Tuy nhiên, sau 2–3 tuần tháo túi, vết thương vẫn không liền, liên tục tiết dịch. Tình trạng kéo dài khiến người bệnh đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương để được đánh giá chuyên sâu.

Tại Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, ThS.BS Nguyễn Ngọc Linh nhận thấy tổn thương có nhiều điểm không giống nhiễm trùng vết mổ thông thường. Dịch tiết nhầy, dạng gel, kéo dài; khoang từng đặt túi ngực vẫn không liền dù vật liệu nhân tạo đã được tháo bỏ nhiều tuần. Với tiền sử nhiễm trùng sau lần đặt túi trước đó và đặc điểm tổn thương bất thường, các bác sĩ nghĩ đến khả năng nhiễm NTM (Non-Tuberculous Mycobacteria – Mycobacteria không điển hình). NTM là nhóm vi khuẩn tồn tại tự nhiên trong môi trường. Một số loài có thể gây nhiễm trùng da và mô mềm, trong đó có những trường hợp liên quan đến thủ thuật xâm lấn hoặc phẫu thuật có sử dụng vật liệu nhân tạo.

Điểm đáng lưu ý là nhiễm NTM có thể diễn biến âm thầm, kéo dài và không điển hình. Người bệnh có thể chỉ biểu hiện bằng vết thương lâu liền, rỉ dịch kéo dài, xuất hiện ổ áp xe hoặc tổn thương tái phát. Vi khuẩn cũng có thể không đáp ứng với các kháng sinh thường dùng cho nhiễm khuẩn vết mổ, khiến việc điều trị gặp nhiều khó khăn nếu không xác định đúng tác nhân.

Tại bệnh viện, khi kiểm tra khoang từng đặt túi, các bác sĩ phát hiện vẫn còn một ổ áp xe nhỏ, hai bề mặt mô chưa liền lại. Ê-kíp tiến hành mở và làm sạch ổ tổn thương, loại bỏ tổ chức viêm, đồng thời áp dụng liệu pháp hút áp lực âm (VAC) để kiểm soát dịch và hỗ trợ quá trình liền thương. Chỉ trong khoảng một tuần, hệ thống đã hút ra hơn 500 ml dịch từ vùng tổn thương. Song song với xử trí ngoại khoa, các bác sĩ lấy bệnh phẩm để xác định tác nhân, từ đó lựa chọn phương án điều trị phù hợp.

Theo ThS.BS Nguyễn Ngọc Linh, với những trường hợp nghi ngờ hoặc xác định nhiễm NTM, việc điều trị không chỉ dừng lại ở làm sạch vết thương. Người bệnh có thể cần phối hợp kiểm soát ổ nhiễm tại chỗ với điều trị thuốc kháng NTM kéo dài có thể nhiều tháng.

“Vết thương liền bên ngoài chưa đồng nghĩa với việc nhiễm trùng đã được kiểm soát hoàn toàn. Nếu tác nhân vẫn còn tồn tại trong mô, tổn thương có thể tái phát”, BS Linh lưu ý.

Tạo hình – thẩm mỹ gắn với chuyên môn kiểm soát nhiễm trùng

Theo TS.BS Dương Mạnh Chiến – Phó Trưởng Khoa, phụ trách Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, các biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật thẩm mỹ không chỉ đòi hỏi kỹ thuật xử trí tổn thương mà còn cần khả năng nhận diện chính xác căn nguyên, đặc biệt với những trường hợp kéo dài hoặc không đáp ứng với điều trị thông thường.

Đây cũng là lợi thế của Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương: bên cạnh năng lực chuyên môn về phẫu thuật tạo hình, thẩm mỹ và xử trí các biến chứng ngoại khoa, người bệnh được tiếp cận với hệ thống chuyên môn sâu về bệnh truyền nhiễm và nhiễm khuẩn. Nhờ đó, các dịch vụ thẩm mỹ được thực hiện tại Bệnh viện với quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn nghiêm ngặt. Ngoài ra đây cũng là nơi chuyên điều trị các trường hợp biến chứng nhiễm trùng phức tạp sau phẫu thuật thẩm mỹ với cách tiếp cận toàn diện, từ nhận diện căn nguyên, lấy bệnh phẩm xét nghiệm, kiểm soát ổ nhiễm, xử trí vết thương đến điều trị nhiễm trùng và phục hồi tổn thương.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa với những trường hợp nhiễm trùng liên quan đến vật liệu nhân tạo, khi việc điều trị có thể kéo dài và cần phối hợp nhiều chuyên khoa, nhiều phương pháp khác nhau.

TS.BS Dương Mạnh Chiến khuyến cáo, người dân có nhu cầu phẫu thuật thẩm mỹ, đặc biệt là các can thiệp có đặt túi độn hoặc vật liệu nhân tạo, cần lựa chọn cơ sở y tế chuyên khoa được cấp phép, có đầy đủ điều kiện phẫu thuật, vô khuẩn, gây mê – hồi sức và có khả năng theo dõi, xử trí biến chứng sau phẫu thuật.

Sau phẫu thuật, nếu vết thương lâu liền, liên tục rỉ dịch hoặc mủ, xuất hiện ổ áp xe, tái phát nhiều lần hoặc không cải thiện dù đã sử dụng kháng sinh, người bệnh cần đến cơ sở y tế có chuyên môn phù hợp để được thăm khám, xác định nguyên nhân và điều trị đúng hướng, thay vì tự điều trị hoặc kéo dài việc sử dụng thuốc theo kinh nghiệm.

“Làm đẹp không chỉ là đạt được kết quả về hình thể mà trước hết phải bảo đảm an toàn cho người bệnh. Lựa chọn cơ sở y tế có đầy đủ năng lực chuyên môn ngay từ đầu sẽ giúp giảm nguy cơ biến chứng và có phương án xử trí kịp thời nếu không may xảy ra”, TS.BS Dương Mạnh Chiến nhấn mạnh.

SỐT MÒ DIỄN BIẾN NẶNG: BÉ GÁI 14 TUỔI SỐC NHIỄM KHUẨN, SUY ĐA TẠNG PHẢI THỞ MÁY, LỌC MÁU

Khởi đầu với sốt, đau họng, bé gái 14 tuổi ở Điện Biên nhanh chóng diễn biến nặng sau khoảng một tuần, rơi vào sốc nhiễm khuẩn, suy đa cơ quan, phải thở máy và lọc máu. Khi chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, các bác sĩ phát hiện tổn thương da nghi do mò đốt và xác định bệnh nhi mắc sốt mò – căn bệnh có thể diễn biến nặng, gây tổn thương nhiều cơ quan nếu không được nhận diện và điều trị kịp thời.

Bệnh nhi là M.H.T., 14 tuổi, người dân tộc, sinh sống tại Điện Biên. Theo thông tin từ gia đình, khoảng một tuần trước khi nhập viện, trẻ bắt đầu sốt, đau họng và được đưa đến cơ sở y tế gần nhà điều trị. Tuy nhiên, bệnh tiếp tục diễn biến nặng, trẻ xuất hiện tụt huyết áp, tiến triển sốc và tổn thương nhiều cơ quan.

Sau đó, bệnh nhi được chuyển lên bệnh viện tuyến tỉnh và được chẩn đoán nhiễm trùng huyết trong tình trạng viêm phổi, suy thận cấp, tổn thương gan và sốc nặng. Do tình trạng nặng, các chỉ số viêm tiếp tục tăng, chức năng thận phục hồi chậm, trẻ tiểu ít, tổn thương phổi nhiều, bệnh nhi được chuyển đến Trung tâm Hồi sức tích cực, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

Một chi tiết quan trọng trong quá trình thăm khám là các bác sĩ phát hiện một tổn thương da nghi do mò đốt ở vùng dưới ngực. Đây là dữ kiện có giá trị giúp định hướng căn nguyên trong bối cảnh bệnh nhi đang có biểu hiện nhiễm trùng nặng.

BS Nguyễn Hồng Kỳ, Trung tâm Hồi sức tích cực, cho biết khi được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, bệnh nhi vẫn sốt liên tục, phải thở máy với nồng độ oxy hỗ trợ cao, duy trì thuốc vận mạch và tiếp tục lọc máu. Các bác sĩ ghi nhận tình trạng sốc nhễm khuẩn và tổn thương đa cơ quan bao gồm viêm phổi, suy thận cấp, và tổn thương gan.

Xét nghiệm chuyên sâu sau đó xác định bệnh nhi nhiễm Rickettsia, phù hợp với chẩn đoán sốt mò. Trẻ tiếp tục được hồi sức tích cực, thở máy, lọc máu, sử dụng kháng sinh phù hợp.

 Sau những giờ đầu điều trị tại Trung tâm Hồi sức tích cực, nhu cầu hỗ trợ oxy và liều thuốc vận mạch đã có xu hướng giảm. Tuy nhiên, trẻ vẫn còn sốt, chức năng các cơ quan phục hồi chậm nên tiên lượng vẫn nặng và cần tiếp tục theo dõi sát, điều trị tích cực.

Theo BS Nguyễn Hồng Kỳ, sốt mò là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Orientia tsutsugamushi, lây truyền sang người qua vết đốt của ấu trùng mò mang mầm bệnh. Người mắc bệnh thường khởi phát với các triệu chứng như sốt cao, đau đầu, mệt mỏi, đau nhức cơ thể; một số trường hợp có thể xuất hiện phát ban.

Đáng chú ý, tại vị trí mò đốt có thể xuất hiện vết loét đặc trưng được gọi là Eschar. Tổn thương thường không đau và có thể nằm ở những vị trí kín đáo như nách, bẹn, dưới ngực, quanh thắt lưng hoặc những vùng được quần áo che phủ. Vì vậy, người bệnh và gia đình có thể không nhận thấy tổn thương này. Trong trường hợp bệnh nhi 14 tuổi, tổn thương được phát hiện ở vùng dưới ngực là một dữ kiện quan trọng giúp các bác sĩ định hướng chẩn đoán và tiếp tục tìm căn nguyên gây bệnh.

Khó khăn trong chẩn đoán sốt mò là ở giai đoạn đầu, bệnh có thể chỉ biểu hiện bằng sốt cùng những triệu chứng không đặc hiệu, dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh nhiễm trùng khác. Nếu không khai thác kỹ yếu tố dịch tễ hoặc không tìm thấy tổn thương da đặc trưng, bệnh có thể bị bỏ sót.

BS Kỳ cho biết, khi diễn biến nặng, sốt mò có thể gây tổn thương nhiều cơ quan như viêm phổi, suy hô hấp, tổn thương gan, suy thận, rối loạn đông máu, giảm tiểu cầu, tổn thương thần kinh trung ương, viêm cơ tim và sốc. Trường hợp nặng có thể dẫn đến suy đa tạng, đe dọa tính mạng người bệnh.

Trường hợp bé gái 14 tuổi là một minh chứng rõ nét: từ những biểu hiện ban đầu khá thông thường là sốt, đau họng, bệnh đã tiến triển trong thời gian ngắn thành sốc nhiễm khuẩn và suy đa tạng, phải đồng thời thở máy, lọc máu và sử dụng thuốc vận mạch.

Theo BS Kỳ, sốt mò có thuốc điều trị đặc hiệu bằng kháng sinh và khả năng đáp ứng tốt nếu được nhận diện, điều trị đúng và kịp thời. Ngược lại, chậm chẩn đoán có thể khiến bệnh tiếp tục tiến triển, làm tăng nguy cơ xuất hiện các biến chứng nghiêm trọng.

Vì vậy, khi sốt cao kéo dài chưa rõ nguyên nhân, đặc biệt ở những người có yếu tố phơi nhiễm như đi rừng, làm nương rẫy, làm vườn, ngồi hoặc nằm trên bãi cỏ, bụi cây hay sinh hoạt tại những khu vực có nhiều cây cối, cần thông tin đầy đủ cho bác sĩ khi đi khám.

 Người dân cũng không nên chỉ tìm kiếm tổn thương da ở những vị trí dễ quan sát. Vết mò đốt có thể nằm ở vùng kín đáo, ít gây đau nên dễ bị bỏ qua. Việc thăm khám toàn thân kỹ lưỡng trong những trường hợp sốt chưa rõ căn nguyên có ý nghĩa quan trọng trong định hướng chẩn đoán.

BS Nguyễn Hồng Kỳ khuyến cáo, người dân không nên chủ quan khi sốt cao kéo dài, đặc biệt nếu kèm theo mệt nhiều, phát ban, khó thở, đau đầu nhiều, rối loạn ý thức, tiểu ít, chảy máu hoặc các biểu hiện toàn trạng xấu đi. Người bệnh cần đến cơ sở y tế để được đánh giá sớm, không nên tự điều trị kéo dài tại nhà.

“Ở giai đoạn đầu, sốt mò có thể không có biểu hiện đặc hiệu ngoài sốt nên rất dễ bị bỏ sót. Trong khi đó, nếu không được điều trị phù hợp, bệnh có thể tiến triển nặng, gây sốc và tổn thương nhiều cơ quan. Việc nghĩ đến bệnh từ yếu tố dịch tễ, tìm kỹ vết đốt hoặc vết loét đặc trưng và điều trị sớm có ý nghĩa rất quan trọng đối với tiên lượng người bệnh”, BS Kỳ nhấn mạnh.

RỐI LOẠN Ý THỨC, CO GIẬT SAU SỐT CAO, NAM TÀI XẾ NGUY KỊCH VÌ BỆNH WHITMORE

Sốt cao kéo dài, đau đầu rồi đột ngột co giật, rối loạn ý thức, một nam tài xế có bệnh đái tháo đường được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương trong tình trạng nặng. Kết quả cấy máu xác định người bệnh nhiễm Burkholderia pseudomallei – vi khuẩn gây bệnh Whitmore. Đáng chú ý, người bệnh có tình trạng tăng đường huyết rất nặng kèm tổn thương thần kinh, khiến quá trình điều trị trở nên phức tạp.

Người bệnh là  ông N.C.T, 54 tuổi, ở Ninh Bình, làm nghề lái xe tại một công trường ở Phú Quốc. Khoảng một tuần trước khi nhập viện, người bệnh xuất hiện sốt cao, đau đầu. Sau khi tự điều trị và tiêm truyền nhưng không rõ loại thuốc, tình trạng không cải thiện nên người bệnh trở về quê để tiếp tục thăm khám. Tối cùng ngày, người bệnh đột ngột xuất hiện co giật vùng mặt, mất ý thức và được đưa đến cơ sở y tế cấp cứu. Tuy nhiên, tình trạng ý thức tiếp tục xấu đi, người bệnh được chuyển đến Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.

BS Bùi Đức Long Thành, Khoa Cấp cứu, cho biết thời điểm tiếp nhận, người bệnh trong tình trạng li bì, rối loạn ý thức, sau đó tiếp tục xuất hiện các cơn co giật cục bộ. Các xét nghiệm ghi nhận bạch cầu khoảng 13.000 tế bào/mm³, CRP 106 mg/L, procalcitonin 5,4 ng/mL, cho thấy tình trạng viêm, nhiễm trùng rõ rệt.

Đáng chú ý, người bệnh có tình trạng tăng đường huyết rất nặng, có thời điểm đường huyết vượt ngưỡng đo của máy. Rối loạn đường huyết, tăng áp lực thẩm thấu và rối loạn điện giải được đánh giá là những yếu tố khiến tình trạng thần kinh của người bệnh thêm phức tạp.

Kết quả cấy máu sau đó xác định Burkholderia pseudomallei, vi khuẩn gây bệnh Whitmore. Trong quá trình đánh giá tổn thương thần kinh, chụp cộng hưởng từ sọ não ghi nhận tổn thương tại vùng đồi thị và rải rác ở vỏ não. Trước tình trạng ý thức xấu đi, người bệnh phải đặt ống nội khí quản, thở máy, đồng thời được điều trị nhiễm khuẩn và kiểm soát tích cực các rối loạn chuyển hóa.

Theo BS Thành, tình trạng người bệnh diễn biến phức tạp do nhiễm Whitmore trên nền rối loạn đường huyết nặng và có tổn thương thần kinh.

Whitmore là bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn Burkholderia pseudomallei gây ra. Vi khuẩn tồn tại tự nhiên trong đất và nước. Con người có thể phơi nhiễm khi tiếp xúc với môi trường có vi khuẩn, chủ yếu qua vùng da bị tổn thương; ngoài ra một số trường hợp có thể liên quan đến đường hô hấp hoặc tiêu hóa.

Whitmore có biểu hiện lâm sàng đa dạng, có thể gây viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết hoặc hình thành các ổ nhiễm trùng, áp xe tại nhiều cơ quan. Khi xác định bệnh, người bệnh cần được đánh giá để phát hiện các ổ nhiễm khuẩn đi kèm. Đặc biệt, nếu hệ thần kinh trung ương bị tổn thương, quá trình điều trị và phục hồi có thể phức tạp, thậm chí để lại di chứng nặng nề về thần kinh bao gồm cả nhận thức vận động.

Sau gần một tháng điều trị tích cực, tình trạng người bệnh đã cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, người bệnh vẫn cần tiếp tục điều trị đủ liệu trình, kiểm soát chặt đường huyết và theo dõi quá trình phục hồi.

Đái tháo đường là yếu tố nguy cơ khiến Whitmore dễ diễn biến nặng

Theo BS Bùi Đức Long Thành, đái tháo đường là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng khiến bệnh Whitmore dễ diễn biến nặng. Đặc biệt, khi đường huyết không được kiểm soát tốt, khả năng chống đỡ nhiễm trùng của cơ thể suy giảm, tạo điều kiện để bệnh diễn biến phức tạp hơn.

Tuy nhiên, nguy cơ Whitmore không chỉ liên quan đến người mắc đái tháo đường. Những người có bệnh lý nền hoặc tình trạng làm suy giảm khả năng chống đỡ của cơ thể như bệnh thận mạn, bệnh gan mạn, bệnh phổi mạn tính, người sử dụng rượu kéo dài hoặc suy giảm miễn dịch cũng cần thận trọng khi thường xuyên tiếp xúc với đất, nước.

Mùa mưa lũ, cần đặc biệt chú ý khi tiếp xúc với đất, nước

BS Thành cho biết, vi khuẩn gây bệnh Whitmore tồn tại tự nhiên trong môi trường đất và nước. Trong mùa mưa, đặc biệt tại những khu vực ngập úng, người dân có thể phải tiếp xúc với nước, bùn đất nhiều hơn trong quá trình đi lại, lao động, dọn dẹp nhà cửa và vệ sinh môi trường. Điều này làm tăng cơ hội phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh tồn tại trong môi trường, trong đó có Burkholderia pseudomallei.

Do đó, người dân, đặc biệt những người có bệnh lý nền, nên hạn chế tiếp xúc trực tiếp với đất, bùn và nước bẩn khi không cần thiết. Khi làm ruộng, làm vườn, dọn vệ sinh sau ngập lụt hoặc phải làm việc trong môi trường đất, nước, nên sử dụng ủng, găng tay và phương tiện bảo hộ phù hợp. Các vết trầy xước, vết thương trên da cần được che chắn và vệ sinh sạch sau khi tiếp xúc.

Sau khi tiếp xúc với đất, nước, nếu xuất hiện các biểu hiện như sốt kéo dài, ho, khó thở, đau đầu, mệt nhiều, xuất hiện các ổ sưng đau, áp xe, rối loạn ý thức hoặc co giật, đặc biệt ở người có bệnh lý nền, cần đến cơ sở y tế để được thăm khám. Người bệnh cũng nên thông báo cho bác sĩ về tiền sử tiếp xúc với đất, nước hoặc môi trường có nguy cơ nếu có.

“Vi khuẩn gây bệnh Whitmore tồn tại tự nhiên trong môi trường nên không phải lúc nào cũng xác định được chính xác người bệnh đã phơi nhiễm ở đâu và vào thời điểm nào. Điều quan trọng là những người có bệnh lý nền cần quản lý tốt sức khỏe, đồng thời chủ động bảo vệ bản thân khi tiếp xúc với đất, nước, nhất là trong mùa mưa lũ. Khi có những biểu hiện nhiễm trùng bất thường hoặc kéo dài, người bệnh nên đi khám sớm để được xác định nguyên nhân và điều trị phù hợp”, BS Bùi Đức Long Thành khuyến cáo.

TỰ MUA THUỐC NAM TRÊN MẠNG UỐNG KÉO DÀI, NAM THANH NIÊN 28 TUỔI SUY GAN CẤP, PHÙ NÃO NGUY KỊCH

Từ triệu chứng hô hấp ban đầu, nam thanh niên L. V. G,  28 tuổi ở Sơn La đã tự mua thuốc Nam không rõ nguồn gốc trên mạng về uống. Sau 2 tuần, người bệnh xuất hiện vàng da, mệt mỏi nhưng vẫn tiếp tục dùng thuốc. Khi đưa đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, bệnh nhân đã hôn mê sâu, suy gan cấp nặng kèm phù não lan tỏa, tình trạng đặc biệt nguy kịch.

ThS.BS Lê Sơn Việt, Khoa Cấp cứu cho biết, bệnh nhân trước đó không ghi nhận bệnh lý nền đáng chú ý. Khoảng một tháng trước, người bệnh xuất hiện ho nhiều, sốt cao, tức ngực và đến khám tại một cơ sở y tế địa phương. Tại đây, bệnh nhân được chẩn đoán theo dõi viêm phổi, chưa loại trừ u phổi và được tư vấn nhập viện để tiếp tục thăm khám, điều trị.

Tuy nhiên, gia đình không đồng ý cho bệnh nhân nhập viện mà đưa về nhà, sau đó tự mua thuốc Nam trên mạng cho bệnh nhân sử dụng. Thành phần, nguồn gốc cũng như liều lượng của các loại thuốc này không được xác định rõ. Sau khoảng 2 tuần uống thuốc, người bệnh bắt đầu xuất hiện vàng da, mệt mỏi – những dấu hiệu có thể cảnh báo tổn thương gan. Dù vậy, bệnh nhân không đi kiểm tra mà vẫn tiếp tục sử dụng thuốc thêm nhiều ngày.

Tình trạng sức khỏe sau đó xấu đi nhanh chóng. Khi xuất hiện rối loạn ý thức rồi hôn mê, gia đình mới đưa đến cơ sở y tế. Bệnh nhân tiếp tục được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương khi tình trạng đã rất nặng.

Theo BS Lê Sơn Việt, thời điểm nhập viện, bệnh nhân đã hôn mê sâu, vàng da rõ, đồng tử giãn và mất phản xạ ánh sáng. Các xét nghiệm cho thấy chức năng gan suy giảm nghiêm trọng. Bilirubin tăng gần 300 µmol/L trong khi amoniac (NH3) khoảng 350 µmol/L, cao gấp nhiều lần mức bình thường. Khi gan suy nặng, khả năng chuyển hóa và đào thải các chất độc bị suy giảm. Trong đó amoniac có thể tích tụ trong máu, tác động đến hệ thần kinh trung ương, góp phần gây bệnh não gan và phù não.

Kết quả chụp CT sọ não cho thấy phù não lan tỏa, các rãnh cuộn não gần như bị xóa, phù hợp với tình trạng phù não nặng.

BS Việt cho biết, suy gan cấp không chỉ gây vàng da mà còn có thể dẫn đến rối loạn đông máu, rối loạn chuyển hóa, bệnh não gan và nhanh chóng tiến triển từ lơ mơ đến hôn mê. Trong những trường hợp nặng, phù não có thể làm tăng áp lực nội sọ, gây tổn thương thần kinh nghiêm trọng và đe dọa trực tiếp tính mạng người bệnh.

Bệnh nhân được triển khai các biện pháp hồi sức tích cực, trong đó có lọc máu và thay huyết tương nhằm hỗ trợ điều trị và loại bỏ một phần các chất độc tích tụ trong máu. Tuy nhiên, do người bệnh đến viện khi suy gan và tổn thương não đã tiến triển rất nặng, tiên lượng rất xấu. Sau 3 ngày điều trị tích cực nhưng tình trạng không cải thiện, gia đình xin đưa bệnh nhân về chăm sóc.

Theo BS Việt, người bệnh đã xuất hiện những dấu hiệu cảnh báo tổn thương gan từ khá sớm. Nếu ngừng sản phẩm nghi ngờ và đến cơ sở y tế kiểm tra chức năng gan ngay từ thời điểm đó, tổn thương có thể đã được phát hiện và xử trí sớm hơn.  Tuy nhiên, người bệnh vẫn tiếp tục sử dụng thuốc cho đến khi xuất hiện rối loạn ý thức và hôn mê sâu.

Bác sĩ cũng lưu ý, các sản phẩm được gọi chung là “thuốc Nam”, “thuốc gia truyền” hoặc các chế phẩm mua qua mạng có thể chứa nhiều thành phần khác nhau. Khi không xác định được chính xác thành phần, hàm lượng và nguồn gốc, việc xác định tác nhân gây tổn thương gan cũng như lựa chọn hướng xử trí có thể gặp nhiều khó khăn.

BS Việt khuyến cáo, người dân không nên tự mua và sử dụng thuốc hoặc các sản phẩm không rõ nguồn gốc, thành phần trên mạng để điều trị bệnh. Trong quá trình sử dụng bất kỳ loại thuốc hoặc sản phẩm hỗ trợ nào, nếu xuất hiện các dấu hiệu bất thường như mệt mỏi nhiều, chán ăn, buồn nôn, vàng mắt, vàng da, nước tiểu sẫm màu, lơ mơ hoặc thay đổi ý thức, người bệnh cần ngừng sử dụng sản phẩm nghi ngờ và đến cơ sở y tế để được thăm khám, kiểm tra chức năng gan và xử trí kịp thời.

VIÊM NÃO NHẬT BẢN: TỪ SỐT, ĐAU ĐẦU ĐẾN HÔN MÊ CHỈ TRONG VÀI NGÀY

Khởi đầu chỉ với sốt và đau đầu tưởng chừng thông thường, viêm não Nhật Bản có thể diễn tiến nhanh, gây rối loạn ý thức, co giật, hôn mê, yếu liệt một phần hay toàn bộ cơ thể, thậm chí đe dọa tính mạng và để lại di chứng thần kinh lâu dài. Khi bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, việc phòng bệnh bằng vaccine và nhận biết sớm các dấu hiệu cảnh báo có vai trò đặc biệt quan trọng.

Chỉ sốt và đau đầu: Bệnh nhi rơi vào hôn mê chỉ sau 2 ngày

Khoa Nhi, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương tiếp nhận điều trị nhiều bệnh nhi mắc viêm não Nhật Bản, trong đó có những trường hợp nhập viện khi bệnh đã diễn biến nặng. Điển hình là một bệnh nhi khởi phát chỉ với sốt, đau đầu nhưng nhanh chóng chuyển nặng, phải hồi sức tích cực và thở máy.

Theo gia đình, cháu G.A.D (9 tuổi ở Lào Cai) ban đầu  xuất hiện sốt và đau đầu. Sau một ngày sử dụng thuốc hạ sốt nhưng tình trạng không cải thiện vẫn sốt cao liên tục. đau đầu tăng kèm theo nôn và buồn nôn, gia đình đưa trẻ đến bệnh viện tuyến huyện thăm khám và điều trị. Tuy nhiên, chỉ một ngày sau, ý thức trẻ chậm chạp dần, không nói được, không ăn uống và dần đi vào hôn mê nên được các bác sỹ chuyển lên bệnh viện tuyến tỉnh. Tại đây, trẻ được chẩn đoán viêm não và tiếp tục được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Tại BV Nhiệt đới TƯ trẻ được chẩn đoán viêm não nhật bản, tại thời điểm nhập viện trẻ đã trong tình trạng hôn mê, suy hô hấp và yếu liệt tứ chi. Trẻ đã được hồi sức tích cực, chống viêm, chống phù não và được đặt ống thở máy để hỗ trợ hô hấp.  “Lúc bác sĩ thông báo tình trạng của con rất nặng, gia đình vô cùng lo lắng. Chúng tôi đặc biệt sợ vì biết bệnh có thể đe dọa tính mạng và để lại di chứng”, bố bệnh nhi chia sẻ.

BSNT Lê Thị Thu Hiền, Khoa Nhi, cho biết bệnh nhi đã điều trị tại bệnh viện khoảng 2 tuần. Thời điểm nhập viện, trẻ trong tình trạng rất nặng, hôn mê, phải đặt ống nội khí quản và thở máy. Các bác sĩ tiến hành hồi sức tích cực, hỗ trợ hô hấp, sử dụng thuốc chống viêm, chống phù não và theo dõi sát các biến chứng thần kinh.

Sau hai tuần điều trị, ý thức của trẻ đã cải thiện rõ rệt. Bệnh nhi tỉnh táo hơn, có thể tự thở và đã cai máy thở thành công.

Tuy nhiên, theo bác sĩ, đây vẫn chưa phải thời điểm có thể chủ quan. Cơ lực toàn thân của trẻ còn yếu và cần tiếp tục được theo dõi sát nguy cơ xuất hiện các biến chứng, di chứng thần kinh như động kinh. Khả năng ho, khạc của trẻ vẫn còn kém, do đó vẫn có nguy cơ suy hô hấp, thậm chí phải đặt lại ống nội khí quản và hỗ trợ thở máy nếu tình trạng hô hấp không đảm bảo.

Dễ nhầm với bệnh nhiễm virus thông thường

Theo các bác sĩ, viêm não Nhật Bản là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây ra, ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thần kinh trung ương. Bệnh lây truyền sang người qua muỗi mang virus. Tại Việt Nam, bệnh thường gia tăng vào mùa hè, khi thời tiết nóng ẩm tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi phát triển. Đây cũng là thời điểm người dân cần đặc biệt lưu ý các bệnh viêm não do virus.

Điều đáng lo ngại là những biểu hiện ban đầu của viêm não Nhật Bản thường không đặc hiệu. Trẻ có thể chỉ sốt cao đột ngột, đau đầu, mệt mỏi, ăn uống kém – những triệu chứng dễ khiến gia đình nhầm với các bệnh nhiễm virus thông thường. TS.BS Đặng Thị Thúy – Trưởng Khoa Nhi cho biết, ở trẻ lớn đau đầu là triệu chứng trẻ có thể mô tả được, trong khi đó trẻ nhỏ không nói được thường chỉ biểu hiện bằng quấy khóc một cách bất thường, ăn uống kém. Tùy diễn biến từng thể bệnh, sau vài giờ đến vài ngày biểu hiện bệnh rõ hơn, trẻ đau đầu tăng, nôn nhiều hoặc nôn tăng kèm theo thay đổi về ý thức hoặc hành vi như co giật, ngủ li bì khó đánh thức, nặng hơn là lờ đờ, hôn mê. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời trẻ nhanh chóng chuyển nặng như suy hô hấp, suy tuần hoàn và đe dọa tới tính mạng.

Chưa có thuốc điều trị đặc hiệu: Phòng bệnh là yếu tố then chốt

TS.BS Đặng Thị Thúy nhấn mạnh, hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với viêm não Nhật Bản. Khi bệnh xảy ra, biện pháp can thiệp chủ yếu là điều trị hỗ trợ và hồi sức, tích cực chống phù não, phòng co giật, hỗ trợ hô hấp, phát hiện và xử trí sớm các biến chứng nhằm giúp người bệnh vượt qua giai đoạn nguy hiểm, hạn chế các biến chứng.

Ngay cả khi được cứu sống, khoảng 50% số trẻ vẫn phải đối mặt với các di chứng về tâm thần, vận động và hòa nhập xã hội, nên cần được theo dõi lâu dài cùng với phục hồi chức năng.

“Vì vậy, phòng bệnh có vai trò đặc biệt quan trọng. Cha mẹ cần đưa trẻ tiêm vaccine viêm não Nhật Bản đầy đủ, đúng lịch, đồng thời chủ động phòng muỗi đốt và vệ sinh môi trường, hạn chế các khu vực muỗi sinh sản”, TS.BS Đặng Thị Thúy khuyến cáo.

Cần lưu ý, khi trẻ có biểu hiện sốt, đau đầu, kèm theo các biểu hiện bất thường như quấy khóc bất thường, li bì, khó đánh thức, co giật, yếu hoặc liệt tay chân, gia đình cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để được thăm khám kịp thời.

Phát hiện sớm và điều trị tích cực có ý nghĩa quan trọng trong kiểm soát các biến chứng, hạn chế nguy cơ tổn thương thần kinh nặng và bảo vệ tính mạng của trẻ.

MẤT CON VÌ HỘI CHỨNG BUDD–CHIARI HIẾM GẶP

Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương vừa tiếp nhận và điều trị một trường hợp hiếm gặp. Bệnh nhân là chị T. T. T, 33 tuổi, trú tại Bắc Ninh, được chuyển đến bệnh viện sau phẫu thuật để theo dõi và tìm nguyên nhân tổn thương gan.
Trước đó, thai phụ mang thai lần thứ ba ở tuần thai thứ 26, nhập viện tại một bệnh viện chuyên khoa sản trong tình trạng đau bụng, bụng to nhanh bất thường và nổi rõ tuần hoàn bàng hệ vùng thượng vị. Bệnh nhân được chẩn đoán viêm phúc mạc và được chỉ định mổ cấp cứu. Trong quá trình phẫu thuật, các bác sĩ phát hiện gan to, bề mặt thô sần, màu sẫm, có dịch đục trong ổ bụng. Thai nhi không thể cứu được do suy thai cấp. Sau mổ, bệnh nhân được chuyển tới Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương để tiếp tục điều trị và tìm nguyên nhân gây tổn thương gan.
Tại đây, kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI bụng có tiêm thuốc) cho thấy gan to, xơ hóa, ngấm thuốc không đồng đều ở thì tĩnh mạch; tĩnh mạch gan giãn, hẹp đoạn đổ vào tĩnh mạch chủ dưới. Tuần hoàn bàng hệ vùng thượng vị phát triển rõ, lách to (143mm), thành túi mật dày. Không ghi nhận huyết khối lớn hay dịch ổ bụng tự do. Hình ảnh gợi ý hội chứng Budd–Chiari – một tình trạng hiếm gặp do tắc nghẽn dòng chảy máu ra khỏi gan, thường là do cục máu đông (huyết khối) làm hẹp hoặc tắc nghẽn các tĩnh mạch gan hoặc tĩnh mạch chủ dưới
Bác sĩ Nguyễn Thị Thu Huyền – Trung tâm Khám chữa bệnh Quốc tế và theo yêu cầu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương – cho biết: “Dựa vào diễn tiến lâm sàng và hình ảnh học, chúng tôi xác định bệnh nhân mắc hội chứng Budd–Chiari trên nền thai kỳ, kèm theo các biến chứng nặng như tăng áp lực tĩnh mạch cửa, cổ trướng, viêm phúc mạc và suy thai cấp. Đáng chú ý, người phụ nữ này từng hai lần sảy thai không rõ nguyên nhân. Chúng tôi nghi ngờ bệnh nhân có rối loạn đông máu tiềm ẩn chưa được phát hiện.”
Theo bác sĩ Huyền, hội chứng Budd–Chiari là tình trạng tắc nghẽn dòng máu từ gan về tim, thường do huyết khối trong lòng tĩnh mạch gan hoặc do các khối chèn ép như u, nang. Đây là bệnh lý hiếm gặp nhưng nguy hiểm, có thể gây suy gan cấp và đe dọa tính mạng nếu không được chẩn đoán, điều trị kịp thời. Trong thai kỳ, bệnh có thể tiến triển âm thầm nhưng hậu quả rất nặng nề.
Khoảng 80% bệnh nhân Budd–Chiari có liên quan đến các rối loạn đông máu như tăng sinh tủy, ung thư (gan, thận, tuyến thượng thận, nhĩ phải…), u lành tính trong gan, phình động mạch chủ bụng và đặc biệt là thai kỳ hoặc sử dụng thuốc tránh thai – chiếm tới 20% số ca phát hiện bệnh. Nguyên nhân có thể gặp thường thấy ở Châu Á và Nam Phi là bất thường cấu trúc bẩm sinh: bao gồm màng chắn (web) trong tĩnh mạch chủ dưới, hoặc các bất thường bẩm sinh khác của tĩnh mạch gan.
Bác sĩ Nguyễn Thị Thu Huyền thăm khám cho bệnh nhân
“Trong quá trình mang thai, cơ thể phụ nữ có xu hướng tăng đông để chuẩn bị cho quá trình sinh nở. Nếu sản phụ có sẵn yếu tố rối loạn đông máu mà không được phát hiện, nguy cơ tắc mạch – đặc biệt là tại các mạch máu lớn như tĩnh mạch gan – là hoàn toàn có thể xảy ra,” bác sĩ Huyền nhấn mạnh.
Bác sĩ Huyền khuyến cáo, phụ nữ mang thai có tiền sử sảy thai liên tiếp, thai lưu không rõ nguyên nhân, tiền sản giật sớm hoặc người thân từng bị thuyên tắc mạch nên được tầm soát rối loạn đông máu trước và trong thai kỳ. Khi có các dấu hiệu như bụng to nhanh, đau vùng gan, vàng da, phù chân hoặc mệt mỏi kéo dài, cần đến bệnh viện kiểm tra sớm. Việc điều trị hội chứng Budd–Chiari đòi hỏi phối hợp nhiều chuyên khoa, bao gồm gan mật, sản khoa và huyết học và chẩn đoán hình ảnh, để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và thai nhi.